Quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học trên đia bàn thị xã dĩ an tỉnh bình dương

Chuyên khảo giáo dục phân tích Quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học trên đia bàn thị xã dĩ an tỉnh bình dương, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

194
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Vai trò cốt lõi của quản lý giáo dục lao động tiểu học

Giáo dục lao động là nền tảng không thể thiếu trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Theo Điều 3 - Luật giáo dục 2005, sửa đổi 2009, nguyên lý “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” là kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục. Tại các trường tiểu học, việc quản lý hoạt động giáo dục lao động không chỉ là tổ chức các buổi dọn dẹp vệ sinh, mà là một quá trình sư phạm có mục đích, giúp học sinh hình thành những phẩm chất quý giá. Quá trình này giúp các em hiểu được giá trị của sức lao động, trân trọng thành quả mình và người khác tạo ra. Đồng thời, đây là con đường hiệu quả để rèn luyện các kỹ năng sống cơ bản như tự phục vụ, làm việc nhóm, và tinh thần trách nhiệm. Nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2019) tại thị xã Dĩ An nhấn mạnh rằng, khi hoạt động giáo dục lao động được quản lý bài bản, nó sẽ góp phần xây dựng môi trường học đường thân thiện, tích cực. Các em không chỉ học kiến thức sách vở mà còn được trang bị những kỹ năng thực tế cần thiết cho tương lai. Quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học hiệu quả là sự tác động có kế hoạch của ban giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng, đến toàn bộ hệ thống giáo dục trong nhà trường, từ việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, đến kiểm tra và đánh giá. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra thế hệ học sinh phát triển toàn diện, biết yêu lao động, quý trọng người lao động và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội, góp phần xây dựng đất nước.

1.1. Mục tiêu hình thành nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh

Mục tiêu hàng đầu của giáo dục lao động cho học sinh tiểu học là hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách. Hoạt động này giúp các em rèn luyện đức tính cần cù, kiên trì và tinh thần trách nhiệm với công việc được giao. Thông qua các nhiệm vụ như vệ sinh lớp học, chăm sóc cây xanh, các em học được cách tự phục vụ và hợp tác với bạn bè. Đây là nền tảng để xây dựng các kỹ năng sống thiết yếu, giúp các em tự tin và chủ động hơn trong cuộc sống. Các hoạt động này không nhằm tạo ra sản phẩm vật chất, mà chủ yếu hướng đến việc giáo dục thái độ, hình thành thói quen tốt và phát triển năng lực cá nhân.

1.2. Thực hiện nguyên lý giáo dục Học đi đôi với hành

Nguyên lý “Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” là một trụ cột của giáo dục Việt Nam. Hoạt động giáo dục lao động là phương thức hiện thực hóa nguyên lý này một cách sinh động nhất. Khi học sinh được trực tiếp tham gia vào các công việc thực tế, dù là đơn giản, các em sẽ có cơ hội áp dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Ví dụ, bài học về môi trường trong môn Khoa học sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi các em tự tay trồng và chăm sóc một cái cây. Quá trình này giúp kiến thức không còn là lý thuyết suông mà trở thành trải nghiệm thực tiễn, khắc sâu vào nhận thức của học sinh.

II. Thực trạng thách thức quản lý giáo dục lao động tại Dĩ An

Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục lao động, công tác quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Nghiên cứu thực tiễn cho thấy một số vấn đề nổi cộm cần được cải thiện. Thứ nhất, nhiều trường chưa xây dựng được kế hoạch giáo dục lao động một cách bài bản và chi tiết, thường chỉ dừng lại ở các hoạt động mang tính hình thức, thời vụ. Thứ hai, các hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa thực sự phong phú và hấp dẫn, dẫn đến việc chưa thu hút được sự tham gia tích cực của học sinh. Một thực trạng đáng lo ngại là xu hướng “dịch vụ hóa” lao động, khi nhà trường thay thế các hoạt động lao động của học sinh bằng việc thu tiền để thuê dịch vụ bên ngoài. Điều này vô hình trung làm mất đi cơ hội rèn luyện quý báu của các em. Công tác chỉ đạo từ cấp quản lý đôi khi còn hạn chế, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Sự thiếu hụt về cơ sở vật chất, dụng cụ lao động phù hợp với lứa tuổi cũng là một rào cản lớn. Những thách thức này đòi hỏi phải có các giải pháp quản lý đồng bộ và quyết liệt để nâng cao chất lượng giáo dục lao động cho học sinh tiểu học.

2.1. Hạn chế trong công tác lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện

Theo khảo sát, một trong những hạn chế lớn nhất là việc thiếu một kế hoạch giáo dục lao động cụ thể, dài hạn. Công tác lập kế hoạch thường bị xem nhẹ, chưa tích hợp sâu vào kế hoạch chung của nhà trường và các tổ chuyên môn. Vai trò chỉ đạo của hiệu trưởng đôi khi chưa quyết liệt, dẫn đến việc giáo viên và học sinh chưa thực sự coi trọng hoạt động này. Sự thiếu giám sát và chỉ đạo sát sao khiến các hoạt động diễn ra rời rạc, không đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

2.2. Thiếu sự phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội

Thành công của giáo dục lao động phụ thuộc rất lớn vào sự đồng thuận và phối hợp các lực lượng giáo dục. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự kết nối giữa nhà trường và cha mẹ học sinh (CMHS) trong vấn đề này còn lỏng lẻo. Nhiều phụ huynh có tâm lý lo ngại con vất vả, ảnh hưởng đến việc học nên chưa ủng hộ việc cho con tham gia lao động tại trường. Bên cạnh đó, việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương để tổ chức các hoạt động lao động công ích cũng chưa được khai thác hiệu quả, làm lãng phí một nguồn lực giáo dục quan trọng.

2.3. Tình trạng dịch vụ hóa hoạt động lao động trong trường học

Một xu hướng đáng báo động là “dịch vụ hóa”, khi nhiều trường chọn giải pháp thu tiền lao động từ phụ huynh để thuê người dọn dẹp thay vì tổ chức cho học sinh thực hiện. Lý do thường được đưa ra là để tiết kiệm thời gian, đảm bảo học sinh tập trung vào học tập. Tuy nhiên, cách làm này đi ngược lại mục tiêu phát triển nhân cách và kỹ năng cho trẻ. Nó tước đi cơ hội để các em hiểu về trách nhiệm và giá trị của lao động, hình thành tâm lý ỷ lại, xem nhẹ công việc chân tay.

III. Phương pháp nâng cao nhận thức và đa dạng hóa giáo dục lao động

Để khắc phục những hạn chế hiện tại, việc đề xuất các biện pháp khả thi là vô cùng cấp thiết. Giải pháp đầu tiên và mang tính nền tảng là nâng cao nhận thức cho tất cả các bên liên quan. Ban giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng, cần đi đầu trong việc tuyên truyền về vai trò quan trọng của giáo dục lao động cho học sinh tiểu học đối với sự phát triển nhân cách. Cần tổ chức các buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề để cán bộ quản lý, giáo viên và cả cha mẹ học sinh (CMHS) hiểu đúng và đầy đủ về ý nghĩa của hoạt động này. Song song đó, việc đa dạng hóa các phương pháp và hình thức tổ chức là chìa khóa để thu hút học sinh. Thay vì chỉ có các hoạt động vệ sinh đơn thuần, nhà trường cần xây dựng các chương trình hoạt động trải nghiệm phong phú. Các hoạt động này phải được thiết kế phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, gắn liền với các môn học, tạo ra môi trường “học mà chơi, chơi mà học”. Việc triển khai hiệu quả hai biện pháp này sẽ tạo ra một bước chuyển biến tích cực trong công tác quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học.

3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục lao động

Biện pháp cốt lõi là thay đổi nhận thức từ gốc. Nhà trường cần chủ động tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của chuyên gia, giáo viên và phụ huynh để làm rõ vai trò của lao động trong việc hình thành phẩm chất và kỹ năng sống. Nội dung giáo dục lao động cần được đưa vào kế hoạch hoạt động của nhà trường, của tổ chuyên môn một cách chính thức. Xây dựng các góc tuyên truyền trực quan, sinh động về những tấm gương lao động tốt cũng là một cách hiệu quả để lan tỏa thông điệp.

3.2. Đa dạng hóa hình thức tổ chức qua hoạt động trải nghiệm

Để hoạt động giáo dục lao động không nhàm chán, cần đa dạng hóa hình thức tổ chức. Thay vì chỉ quét dọn, có thể tổ chức các hoạt động trải nghiệm như “Ngày hội tái chế”, “Vườn rau của em”, “Trang trí lớp học xanh”. Các hoạt động này không chỉ rèn luyện kỹ năng mà còn kích thích sự sáng tạo và tinh thần đồng đội. Lồng ghép các cuộc thi nhỏ có khen thưởng sẽ tạo động lực, khuyến khích học sinh tham gia nhiệt tình và tự giác hơn.

IV. Hướng dẫn tăng cường chỉ đạo và kiểm tra giáo dục lao động

Một hệ thống quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học hiệu quả không thể thiếu sự chỉ đạo quyết liệt và công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Hiệu trưởng cần đóng vai trò nhạc trưởng, chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm (GVCN) tích hợp nội dung giáo dục lao động vào các môn học như Đạo đức, Khoa học, Kỹ thuật một cách tự nhiên và hiệu quả. Việc chỉ đạo phải cụ thể, từ việc hướng dẫn học sinh hiểu giá trị của lao động qua các hoạt động nhỏ như trồng cây, đến việc đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các em khi tham gia. Bên cạnh chỉ đạo, chức năng kiểm tra, đánh giá là công cụ quan trọng để đo lường hiệu quả và kịp thời điều chỉnh. Nhà trường cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, không chỉ đánh giá kết quả công việc mà còn tập trung vào thái độ, ý thức và mức độ tham gia của học sinh. Hoạt động kiểm tra có thể thực hiện thông qua dự giờ, quan sát các hoạt động ngoại khóa, và sơ kết, tổng kết định kỳ. Việc tuyên dương, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể làm tốt sẽ là động lực to lớn, nhân rộng những điển hình tích cực trong toàn trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lao động cho học sinh tiểu học.

4.1. Tăng cường vai trò chỉ đạo của hiệu trưởng và GVCN

Vai trò của người đứng đầu là then chốt. Hiệu trưởng cần chỉ đạo sát sao việc lồng ghép giáo dục lao động vào chương trình học và các hoạt động của Đội. Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp tổ chức và theo dõi học sinh, cần thường xuyên nhắc nhở, quan sát và động viên các em trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, đồ dùng học tập và không gian chung. Sự chỉ đạo nhất quán từ trên xuống sẽ tạo ra một nề nếp tốt trong toàn trường.

4.2. Xây dựng cơ chế kiểm tra đánh giá và khen thưởng định kỳ

Công tác kiểm tra đánh giá cần được thực hiện thường xuyên và có hệ thống. Cần xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục lao động của từng lớp, từng học sinh. Kết quả đánh giá phải được công khai, minh bạch. Quan trọng hơn, cần có hình thức tuyên dương, khen thưởng kịp thời đối với những lớp, cá nhân thực hiện tốt. Việc nêu gương điển hình trong các buổi sinh hoạt dưới cờ sẽ có tác động lan tỏa mạnh mẽ, khuyến khích tinh thần thi đua tích cực.

V. Bí quyết phối hợp và quản lý CSVC trong giáo dục lao động

Để hoạt động giáo dục lao động đạt hiệu quả cao nhất, cần hai yếu tố hỗ trợ quan trọng: sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng xã hội và một hệ thống cơ sở vật chất được quản lý tốt. Đây là bí quyết để biến kế hoạch trên giấy thành hiện thực. Trước hết, nhà trường phải chủ động tham mưu với chính quyền địa phương, phối hợp với Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên Tiền phong để tổ chức các hoạt động lao động công ích có ý nghĩa, chẳng hạn như chăm sóc di tích lịch sử, làm sạch đường làng ngõ xóm. Sự chung tay này không chỉ mở rộng không gian giáo dục ra ngoài phạm vi nhà trường mà còn gắn kết học sinh với cộng đồng. Yếu tố thứ hai là tăng cường quản lý và đầu tư cơ sở vật chất. Một kế hoạch mua sắm, trang bị dụng cụ lao động phù hợp, an toàn cho học sinh cần được xây dựng từ đầu năm học. Các phòng thực hành, thí nghiệm cần được đầu tư để học sinh có không gian sáng tạo. Việc thường xuyên kiểm tra, sửa chữa, bổ sung kịp thời trang thiết bị sẽ đảm bảo các hoạt động diễn ra suôn sẻ, an toàn và hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc cho việc quản lý hoạt động giáo dục lao động ở trường tiểu học.

5.1. Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong và ngoài nhà trường

Sức mạnh của sự phối hợp là rất lớn. Nhà trường cần đưa nội dung giáo dục lao động vào mục tiêu hoạt động của tổ chức Đội. Chủ động kết hợp với Đoàn TNCS HCM, chính quyền địa phương để tổ chức các hội thi, các chiến dịch như “Chủ nhật xanh”, “Một học sinh một mầm cây”. Sự tham gia của các tổ chức đoàn thể sẽ tạo ra không khí sôi nổi, đồng thời giáo dục học sinh về trách nhiệm xã hội và tinh thần cống hiến vì cộng đồng.

5.2. Tăng cường quản lý và đầu tư cơ sở vật chất thiết bị

Cơ sở vật chất là điều kiện cần để triển khai hoạt động. Nhà trường cần lập kế hoạch đầu tư, mua sắm các phương tiện, thiết bị phục vụ giáo dục lao động như dụng cụ làm vườn, đồ dùng vệ sinh phù hợp với lứa tuổi. Xây dựng và duy trì các phòng thí nghiệm, phòng thực hành là rất quan trọng để học sinh được tự tay làm các thí nghiệm khoa học. Công tác quản lý, bảo quản và kiểm tra định kỳ cơ sở vật chất phải được thực hiện nghiêm túc để đảm bảo an toàn và hiệu quả sử dụng lâu dài.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu: Đề cập những vấn đề chung của đề tài - Nội dung: Gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục lao động cho học sinh ở trƣờng tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục lao động cho học sinh ở trƣờng tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục lao động cho học sinh ở trƣờng tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. - Kết luận, kiến nghị - Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC LAO ĐỘNG CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.

Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Theo Đêmôcơrit (460 - 370 TCN), nhà duy vật kiệt sức của Hy Lạp cổ đại, trong giáo dục, ông coi trọng giáo dục lao động và là ngƣời đầu tiên đề xuất nguyên tắc kết hợp giáo dục với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ (Nguyễn Văn Hộ, 2007). Trong những năm gần đây, giáo dục ở các nƣớc đã bắt đầu quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục lao động cho học sinh. Đặc biệt là giáo dục ở bậc tiểu học.

Hiện nay, Nhật Bản đặc biệt quan tâm tới giáo dục lao động để thế hệ mầm non tƣơng lai có thể phát triển toàn diện. Ngay từ bậc tiểu học, học sinh Nhật Bản đã đƣợc giáo dục lao động một cách rất kỹ lƣỡng. Sau giờ học, các em dù là học sinh lớp 1, thƣờng đƣợc phân công thành từng nhóm để trực nhật. Các em sẽ tự lau bàn, lau sàn lớp học, tham gia vệ sinh toàn trƣờng vào ngày qui định.

Ở Nhật Bản, các trƣờng còn tổ chức các hoạt động lao động giữa các giờ học. Cụ thể nhƣ: Sau giờ học sáng, trƣớc khi ăn trƣa, học sinh làm vệ sinh lớp học, nhặt rác, lau chùi bàn ghế.Cuối ngày học, học sinh có một giờ tham gia các câu lạc bộ thể thao, nghệ thuật. Bên cạnh đó, hàng tuần, các em sẽ vệ sinh, quét dọn trạm dừng xe buýt gần trƣờng. Trong bữa ăn hàng ngày, các em biết cách thay nhau chia thức ăn và tự thu dọn sau khi ăn xong.

Các lễ hội cổ truyền của Nhật Bản và trên thế giới, ngày hội thể thao, liên hoan văn nghệ và các buổi dã 9 ngoại cũng thƣờng xuyên đƣợc tổ chức. Tất cả hoạt động đƣợc chuẩn bị chu đáo, tạo cơ hội để học sinh tìm hiểu phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của các nƣớc. Học sinh trực tiếp chuẩn bị và thực hành, tham gia các hoạt động, làm tăng thêm niềm vui của các em khi đến trƣờng. Các hoạt động cũng trau dồi cho các em những phẩm chất tốt đẹp cùng các kỹ năng sống, kỹ năng tổ chức, hoạt động tập thể, cách phối hợp làm việc theo nhóm.

Qua đó, học sinh có ý thức với công việc chung, trân trọng sức lao động của ngƣời khác và tăng cƣờng tính hợp tác trong sinh hoạt tập thể (Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, 2016). Đối với học sinh tiểu học thì việc lao động đơn giản nhất là vệ sinh lớp học. Vì lớp học là một nơi quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Do đó để có một lớp học sạch sẽ thì giáo viên hình thành một lịch trình phù hợp phân bổ một số nhiệm vụ nhất định cho mỗi học sinh trong việc giữ gìn vệ sinh lớp học (Dini Metro-Roland, 2018).

Nhờ vậy mà các em luôn có ý thức vệ sinh lớp học ngay từ thời học tiểu học. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng rất quan tâm đến giáo dục lao động qua phƣơng pháp “Dạy học qua di sản”, dạy kỹ năng sống cũng đƣợc chứng kiến các hoạt động thực tế trong xã hội. Học sinh phải chịu trách nhiệm giữ gìn cảnh quan sạch đẹp của nhà trƣờng và nơi sinh sống. Vào đầu buổi sáng, các học sinh sẽ phải dọn dẹp và làm sạch hành lang, phòng học, cầu thang và những thùng rác trên sân trƣờng, chăm sóc.

Trong khi những ngƣời lao công sẽ làm những công việc vất vả hơn nhƣ phòng tắm, nhà vệ sinh công cộng. Học sinh mầm non và phổ thông đến trƣờng từ 8h đến 21h. Đây cũng là thời gian làm việc trong ngày của ngƣời lao động ở Hàn Quốc. Buổi trƣa, học sinh tiểu học trở lên và cán bộ văn phòng không ngủ trƣa.

Ăn trƣa xong nghỉ 30 phút, tiếp tục học tập, làm việc. Khi vào học, học sinh và giáo viên tất cả các cấp học đều phải bỏ giày ngoài cửa lớp, thay một đôi giày khác vào lớp để đảm bảo vệ sinh (Dƣ Lý Trí, 2015). Từ những quan điểm trên, cho thấy vấn đề giáo dục lao động cần đƣợc đặt lên hàng đầu đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học. Cần phải có sự đồng thuận thống nhất về quan điểm, nội dung và phƣơng pháp giáo dục lao động cho học sinh tiểu học góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh.

Các nghiên cứu trong nước Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW “về cải cách giáo dục”. Nghị quyết nêu mục tiêu của cải cách giáo dục lần này là “làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho tới lúc trƣởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con ngƣời Việt Nam mới, ngƣời lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện”. Nguyên lý cải cách giáo dục là việc học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn với xã hội. Điều 27, Luật Giáo dục 2005 quy định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. Đảng và nhà nƣớc cũng nhận thấy đƣợc tầm quan trọng của giáo dục lao động và thể hiện trong Luật giáo dục 2005, sửa đổi 2009: “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trƣờng kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trƣờng phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 có nội dung nhƣ sau: “Tổ chức để học sinh trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thƣờng xuyên. Học sinh tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trƣờng, giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trƣờng, lớp học và cá nhân.

Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm. Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phƣơng. Mỗi trƣờng đều nhận chăm sóc một di tích lịch sử, văn hóa hoặc di tích 11 cách mạng ở địa phƣơng, góp phần làm cho di tích ngày một sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn; tuyên truyền, giới thiệu các công trình, di tích của địa phƣơng với bạn bè. Mặt khác, yêu lao động còn đƣợc xem là phẩm chất nhân cách đầu tiên trong số những phẩm chất của ngƣời Việt Nam cần phải giữ gìn và phát huy là: Yêu lao động, lòng yêu nƣớc, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, hiếu học, hiếu thảo (Trần Thị Tuyết Oanh, 2012).

Tác giả Nhất Nguyên 24/1/2013 đã nêu trong tác phẩm: “Giáo dục toàn diện để tạo ra con ngƣời toàn diện”. Trong đó đã nhắc đến lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Ngƣời còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền giáo dục toàn diện ngày nay chúng ta hƣớng tới không nằm ngoài lời dạy của Ngƣời, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền giáo dục trong khu vực và thế giới”.

Điều 5 Thông tƣ 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/08/2014 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT về quy định một trong những nội dung đánh giá định kỳ sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh là “Chăm học, chăm làm; tích cực tham gia hoạt động giáo dục”. Trong đánh giá thƣờng xuyên sự hình thành và phát triển năng lực học sinh cũng đã quy định: “Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi về năng lực tự phục vụ, tự quản của các em nhƣ: thực hiện đƣợc một số việc phục vụ cho sinh hoạt của bản thân nhƣ vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học tập nhƣ chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn thành công việc”. Cũng trong Thông tƣ này đã quy định đánh giá học sinh tiểu học có nội dung đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực học sinh qua năng lực tự phục vụ, tự quản. Để thực hiện đánh giá nội dung này thì giáo viên cần phải quan sát việc tự phục vụ của các em từ vệ sinh cá nhân đến lao động vệ sinh lớp, trƣờng, ý thức giữ gìn vệ sinh chung.

12 Trong tác phẩm “Vận dụng và phát huy tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo trong công cuộc đổi mới hiện nay”. Chuyên trang “Học tập và làm theo tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh” của Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình ngày 29/ 11/2016 có nhắc đến Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục toàn diện bao gồm thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục và kết hợp các nội dung trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ