phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp ở các trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài Hƣớng nghiệp trong giáo dục với bản chất là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trƣờng để giúp học sinh phổ thông có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trƣờng cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới nhằm đạt đƣợc mục tiêu đó. Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề đã đƣợc nhiều nhà khoa học ở các nƣớc trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên, học sinh có sự lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu kinh tế của đất nƣớc. Vào giữa thế kỷ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hƣớng nghiệp chọn nghề”. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp.
Ngay khi đó, ngƣời ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hóa vƣợt hơn hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh bƣớc vào thế giới nghề nghiệp[4]. Đến năm 1975, nƣớc Pháp tiến hành cải cách giáo dục theo hƣớng: Tăng cƣờng giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đƣa giáo dục kỹ thuật vào giảng dạy, đảm bảo sự liên hệ giữa trƣờng học và đời sống, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp kiến thức khoa học, tăng cƣờng tỷ trọng kiến thức có ý nghĩa ứng dụng và hƣớng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị bƣớc vào quá trình đào tạo 7 và định hƣớng nghề nghiệp. Ở Đức, quản lý GDHN ở trƣờng trung học đƣợc nhiều tác giả quan tâm: Các nhà nghiên cứu của Tổ chức nghiên cứu về lao động kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy học với các công trình nghiên cứu về vấn đề cải cách nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp; Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở viện Hàn lâm Khoa học giáo dục-Cộng hoà Dân chủ Đức nhƣ Heinz Frankiewicr, B.Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm Giáo dục kỹ thuật với nhà trƣờng phổ thông. Năm 1883, ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph.Ganton đã trình bày công trình thử nghiệm với mục đích lựa chọn nghề nghiệp.
Vào đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hƣớng nghiệp, tƣ vấn cho thanh niên ở đó chọn đƣợc nghề thích hợp với khả năng của bản thân và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội. Ở Liên bang Nga, hƣớng nghiệp đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong mối quan hệ với thị trƣờng, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con ngƣời, chỉ rõ nhu cầu của thị trƣờng lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân nhƣ là điều kiện quan trọng nhất để thỏa nguyện yêu cầu phát triển của con ngƣời trong lao động. Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trƣờng phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chƣơng trình giáo dục. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính đó là: phổ thông và chuyên nghiệp.
Các trƣờng kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trƣớc rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông. Tại Thái Lan, ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kỹ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Sang cấp II, đẩy mạnh công tác GDHN gắn với nghề phù hợp 8 với lứa tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bƣớc tiền đề cho học sinh bƣớc vào cấp III. Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hƣớng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kỹ năng về nghề cần thiết.
Tại Philippin, một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cần thiết để lựa chọn nghề. Chính vì thế, học sinh đƣợc trang bị kiến thức về nghề từ khi học THCS. Học sinh phải có kiến thức, kỹ năng, thông tin về nghề nghiệp mà mình chọn, có thái độ làm việc tích cực[5]. Các công trình khoa học của các tác giả một số nƣớc trên thế giới về GDHN trong trƣờng phổ thông đều chú trọng đến việc cải cách mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, CSVC phục vụ công tác hƣớng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng và làm tốt công tác phân luồng học sinh sau các cấp học.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng GDHN giữ một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của các nƣớc khác nhau trên thế giới. Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nhiều nƣớc, các thiết chế GDHN đã đƣợc xây dựng ở các cấp giáo dục nhƣ THCS, THPT, THCN, CĐ và ĐH. Để triển khai các mô hình hƣớng nghiệp tích hợp trong hệ thống giáo dục quốc dân, chính phủ nhiều nƣớc đã có chính sách đồng bộ để duy trì, củng cố các chức năng của giáo dục hƣớng nghiệp.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở nƣớc ta còn mới mẻ cả về lý thuyết và trong hoạt động lẫn thực tiễn so với các nƣớc trên thế giới về GDHN. Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các công trình khoa học của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu về GDHN cho học sinh phổ thông ở những khía cạnh khác nhau.
Từ năm 1979 đến năm 1981 Viện khoa học dạy nghề và tổng cục dạy nghề (nay là Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp) đã tiến hành nghiên cứu nhiều 9 công trình hƣớng nghiệp. Giai đoạn 1982-1986 đã có các đề tài nghiên cứu, mô tả nghề, điển hình nhƣ các tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Nguyễn Viết Sự. Nhìn chung những công trình nghiên cứu này chỉ tập trung đề cập đến việc xây dựng phòng hƣớng nghiệp, tƣ vấn nghề tại các trƣờng. [9] Trong những năm 1983-1996, GDHN nƣớc ta đã có những thay đổi và đạt đƣợc một số thành tựu quan trọng đáng chú ý.
GDHN phát triển ở hầu hết các trƣờng phổ thông, nhiều trƣờng đã trang bị phòng hƣớng nghiệp, góc hƣớng nghiệp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã có giai đoạn chúng ta chƣa chú trọng GDHN, dạy nghề nên dẫn đến tình trạng thừa thiếu, thừa thầy, thiếu thợ, ảnh hƣởng đến nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng ta luôn nhấn mạnh đến việc tăng cƣờng công tác hƣớng nghiệp, đẩy mạnh hƣớng nghiệp dạy nghề [29]. Ngay từ năm 2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho xây dựng chƣơng trình GDHN và viết sách GDHN cho học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 để thực hiện chủ trƣơng của Đảng về công tác hƣớng nghiệp.
Năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Giáo dục phổ thông và Hƣớng nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc” [26]. Có 20 báo cáo, tham luận khoa học tại hội thảo. Các bài tham luận thật sự là những nghiên cứu tìm tòi, đúc rút, tổng kết có giá trị về lí luận và thực tiễn của giáo dục phổ thông và hƣớng nghiệp. Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làm cho GDHN và giáo dục phổ thông phục vụ tốt cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế.
Ngày 11/01/2005, Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện nghiên cứu Quốc gia về lao động và hƣớng nghiệp - Cộng hòa Pháp đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế về GDHN với chủ đề: “Đối thoại Pháp- 10 Á về các vấn đề và hƣớng đi cho giáo dục hƣớng nghiệp tại Việt Nam” [25]. Trong hội thảo, nhiều tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đã trình bày sâu các nội dung, hƣớng đi cấp thiết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ GDHN của nhà nƣớc. Trong đó, tham luận của tác giả Trần Văn Nhung về Định hƣớng và nhiệm vụ giáo dục hƣớng nghiệp cho hệ thống giáo dục quốc dân tại Việt Nam đã khẳng định: “Hƣớng nghiệp nói chung và hƣớng nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân nói riêng từ lâu và từ rất sớm đã là một trong những quan tâm và ƣu tiên hàng đầu trong hệ thống các chính sách và công cụ quản lý giáo dục mang tính chiến lƣợc mà Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đã đặt ra trong nhiều văn kiện, quy phạm pháp luật quan trọng liên quan đến giáo dục mà còn về việc hậu thuẫn, thúc đẩy các quy hoạch và chiến lƣợc phát triển giáo dục, xử lý mọi quan hệ cung - cầu trên thị trƣờng đào tạo và sự tƣơng tác giữa các hệ thống giáo dục, đào tạo và việc làm”.