Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHỐI HỢP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, năm 1960, Đảng lao động Việt Nam đã khẳng định “Công tác giáo dục phải phục vụ nhiệm vụ và đường lối cách mạng của Đảng, phải nắm vững phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội ”. Từ đó “Học đi đôi với hành” được coi là mục tiêu, nguyên lý, phương pháp, phương châm dạy và học của nền giáo dục cách mạng nước ta.
Theo Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo phổ thông”, Quyết định số 522/QĐ-TTg, ngày 14/5/2018, của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt “Đề án Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025”, góp phần bổ sung vững chắc cho những căn cứ hỗ trợ công tác giáo dục hướng nghiệp, bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu như sau: - Tác giả Phạm Đăng Khoa (2016), Quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác GDHN ở các trường THPT Thành Phố Hồ Chí Minh, tác giả đã đề xuất các giải pháp quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả GDHN THPT theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh [39]. - Tác giả Bùi Văn Hưng (2013), Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Từ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động GDHN ở các trường dạy nghề nhằm nâng cao 6 chất lượng đào tạo nghề đáp ứng những yêu cầu nguồn nhân lực trong nước [37].
Qua đây ta thấy Quản lý hoạt động GDHN đã được quan tâm, nghiên cứu có hệ thống một cách khoa học; dù được nghiên cứu muộn hơn nhưng cũng đã có đóng góp vào mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người; phân luồng giáo dục, phân luồng học sinh, định hướng phát triển nguồn nhân lực cho nước nhà. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo hướng phối hợp Bên cạnh những tài liệu có tính kinh điển nêu trên, trong những năm gần đây, nhiều tác giả cũng lựa chọn chủ đề này để nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục, như: - Tác giả Trương Thị Hoa (2014), Giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT KV Hà Nội qua tham vấn nghề, Luận án Tiến sĩ Chuyên ngành Quản lý Giáo dục Viện khoa học Giáo dục Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong đó, Xây dựng được quy trình hoạt động tham vấn nghề trong GDHN nhằm trợ giúp HS giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề góp phần nâng cao hiệu quả GDHN trong nhà trường THPT hiện nay. đồng thời thực hiện nhiệm vụ: (1) Nghiên cứu cơ sở lí luận của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT; (2) Phân tích thực trạng của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT; (3) Xây dựng quy trình hoạt động tham vấn nghề trong GDHN ở THPT; (4) Tổ chức thực nghiệm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của quy trình hoạt động tham vấn nghề cho HS THPT.
- Tác giả Phạm Thị Minh Tâm (2007), “Một số biện pháp tổ chức phối hợp trong công tác giáo dục cho học sinh trường THPT” đã nêu lên tầm quan trọng trong tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GD học sinh THPT. - Tác giả Trần Anh Dân (2009), “Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường trung học phổ thông về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong 7 giáo dục ở thành phố Thái Bình hiện nay” khẳng định trong giáo dục học sinh các nhà quản lý phải chú trọng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. - Tác giả Nguyễn Thanh Thu Thủy, Đại học sư phạm Hà Nội, 2012 với tựa đề: “Các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT huyện Lạc Dương - Lâm Đồng” đã nêu lên tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình. - Tác giả Trương Hải Thanh, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2013 với tựa đề: “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT tỉnh Bình Dương” cũng một lần nữa khẳng định tầm quan trọng trong công tác phối hợp để GD học sinh THPT.
Ta thấy có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục cho học sinh ở các nhà trường. Tuy nhiên, các đề tài chủ yếu tập trung vào vấn đề quản lý sự phối hợp các LLGD trong vấn đề GD học sinh nói chung. Các đề tài nghiên cứu về công tác tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GDHN cho HS của lãnh đạo các trường THPT sát với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa xã hội của từng địa phương, để xác định được các biện pháp quản lý khả thi phù hợp thì hầu như chưa được đề cập đến. Chính vì lẽ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo hướng phối hợp” là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng thời cũng góp phần đề ra được một số biện pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của ngành giáo dục tỉnh Thanh Hóa; góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDHN cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tạo ra bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận trình độ thế giới, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập của địa phương và đất nước.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý 8 Theo Harold Koolz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.38] Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa “ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt mục đích của mình” [15, tr. Tác giả Trần Kiểm cho rằng “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [40, tr.
Tác giả Bùi Minh Hiền nêu khái quát “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [29, tr. Qua đây ta thấy Quản lý là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý tới khách thể và đối tượng quản lý một cách có kế hoạch, có tổ chức, có phối hợp, có kiểm tra, đánh giá công việc nhằm đạt được những mục tiêu đã dự kiến. Quản lý giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi hoạt động xã hội. Theo chúng tôi, đi theo quan điểm của tác giả Trần Kiểm.
Hướng nghiệp Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu XH”. Luật giáo dục 2019, khoản 1 điểu 9 “Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài cơ sở giáo dục để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp, khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp 9 nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội” Từ các định nghĩa trên có thể thấy hướng nghiệp cho học sinh phổ thông có những ý nghĩa như sau Về giáo dục: Hướng nghiệp là hoạt động nhằm điều chỉnh ý thức, động cơ chọn nghề, yếu thích nghề nghiệp của thanh niên dựa theo xu thế phân công lao động xã hội. Về ý nghĩa kinh tế, hướng nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ của đất nước. Với cơ cấu dân số hiện nay, đất nước ta có một lực lượng lao động tiềm năng dồi dào.
Nếu lực lượng ấy được tổ chức, định hướng đúng sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, hứng thú và yêu cầu của sự phân công lao động xã hội thì sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao năng suất lao động sau này. Về ý nghĩa xã hội, hướng nghiệp sẽ điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo sự cân bằng trong việc phân bố lực lượng dân cư, tạo công ăn việc làm cho thanh niên. Qua đó góp phần tạo ổn định xã hội. Như vậy hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp dựa trên cơ sở tâm sinh lý, giáo dục học - xã hội học - y học và nhiều ngành khoa học khác để giúp thanh niên chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, thích hợp với năng lực, nguyện vọng cá nhân nhằm phân bổ và sử dụng hiệu quả cao nhất lực lượng lao động có sẵn của đất nước.