CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Về sự hình thành và phát triển khoa học GD TKT ở nước ngoài, (Nguyễn Xuân Hải, 2009a), có tổng hợp như sau: Thế kỉ thứ XV bắt đầu có sự quan tâm chăm sóc GD TKT, song cũng chỉ có những ghi chép về việc chăm sóc trẻ khiếm thính và trẻ khiếm thị.
- GD trẻ khiếm thính: Able De L’Epee (1712 - 1789), người Pháp, đã phát minh ra các “kí hiệu có phương pháp”, một hệ thống các kí hiệu chuyên biệt dùng để dạy tiếng Pháp cho học sinh điếc. Năm 1880, tại nước Ý đã diễn ra Đại hội Milano quyết định lựa chọn sử dụng ngôn ngữ nói đơn thuần là phương pháp dạy trẻ điếc. Sau đó trẻ em điếc được đến trường, ngôn ngữ kí hiệu - ngôn ngữ bản xứ của người điếc góp phần vào việc khôi phục và phát triển một nền văn hóa riêng của cộng đồng người điếc trên thế giới. - GD trẻ khiếm thị: Tư tưởng GD người mù xuất hiện đầu tiên từ năm 1662 ở Palermo - Pháp.
Bên cạnh đó, tổ chức kết nghĩa anh em của những người mù ở Anh đã được thành lập để tự học tìm cách tự định hướng di chuyển tốt trong thành phố London. Lui Braille (1809 - 1852), Pháp, đã đặt nền móng về nội dung, phương pháp dạy học, hình thức GD và kiểu chữ viết cho người mù đến nay vẫn được toàn thế giới thừa nhận. Từ những năm 60 thế kỷ XX tư tưởng tôn trọng giá trị bình đẳng về cơ hội cho mọi người, trong đó có trẻ em đã xuất hiện và trở thành trào lưu trên thế giới. 9 Một mô hình GD TKT mới ra đời - GDHN.
Mô hình này đầu tiên xuất hiện ở một số nước Châu Âu (Thụy Điển, Na Uy, Italy, Tây Ban Nha, .), Bắc Mỹ, Newzealand sau dần phát triển ở các nước khác và đã được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, những tổ chức của Liên hợp quốc như UNICEF, UNESCO. Đến những năm 70, việc TKT được đưa vào học trong các lớp học bình thường và khái niệm môi trường ít hạn chế nhất mới được xuất hiện. Những chương trình GD đặc biệt dựa vào cộng đồng đã được chấp nhận một cách rộng rãi đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Năm 1994, Tuyên bố Salamanca của UNESCO đã nêu ra sự cần thiết phải thực hiện GDHN và các nguyên tắc về GDHN đã được sự đồng thuận rộng rãi của các quốc gia trên thế giới.
Kiyo Kitahara, một nhà GD Nhật Bản, đã phát triển một kế hoạch GD trong đó cho trẻ tự kỉ học với những trẻ bình thường khác trong lớp. Kế hoạch này bao gồm các bài tập thể dục như là một cách giảm những hành vi tự kích thích và thu mình ở trẻ tự kỉ (Houston Chronicle, 1986). Từ thời điểm này, lí thuyết và thực hành về GD hòa nhập cho trẻ tự kỉ bắt đầu được chú ý và phát triển trên toàn thế giới. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu cụ thể về vấn đề này như: nghiên cứu của Massey & Wheeler (2000) trên một trường hợp học sinh tự kỉ theo học GDHN cho thấy sự cải thiện rõ rệt về hành vi; nghiên cứu của Hartman (2001) cho thấy, trẻ tự kỉ trong lớp học có nhiều vấn đề về hành vi như: trẻ tự kỉ hay bị bắt nạt và khó làm theo hướng dẫn bằng lời của giáo viên.
Ngoài ra những học sinh tự kỉ còn hay bị phân tán, dễ mất tập trung, rất khó khăn khi phải thay đổi môi trường học tập; Shaddock (2003) cho rằng, nên tập trung vào việc cung cấp cho trẻ tự kỉ sự giáo dục phù hợp hơn là coi rằng GDHN là tối ưu cho mọi học sinh bị tự kỉ. Sau đó, trong suốt một thời gian dài, đã có nhiều chương trình ra đời thực hiện GDHN cho TKT. Các nghiên cứu mới tập trung ở việc nghiên cứu các mô hình GDHN cho TKT và cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện… mà chưa có 10 những nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề QL việc thực hiện GDHN trong nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường MN nói riêng. Các nghiên cứu trong nước Giáo dục TKT ở Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với GD TKT thế giới.
Năm 1985, lần đầu tiên ở Việt Nam ý tưởng "Giáo dục hòa nhập" được ra thảo luận tại một hội nghị do UNICEF tổ chức. Sau đó ý tưởng này được thực hiện, triển khai trong chương trình Quốc gia phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng do Bộ Y tế chủ trì từ năm 1987 - 1997. Xu thế phát triển chung của thời đại cùng với những tiến bộ khoa học - kĩ thuật đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình GDHN TKT. Tuy nhiên mãi đến năm 1991 mô hình này mới bắt đầu được Viện Khoa học Giáo dục nghiên cứu triển khai thí điểm tại Việt Nam.
Trịnh Đức Duy (1992), cho rằng: GD cho TKT nên theo hai mô hình là chuyên biệt và hòa nhập. Năm 1995, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt thuộc trường đại học Sư Phạm Hà Nội được thành lập. Năm 1998 - 2001, Vụ Giáo dục Mầm non đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình can thiệp sớm và GDHN cho TKT MN tại 3 nơi: Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Huyện Bình Lục - Nam Hà, Huyện Cam Lộ - Quảng Trị. Năm 2001, Khoa Giáo dục Đặc biệt đầu tiên trong cả nước được thành lập tại trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Với nhiệm vụ đào tạo giáo viên, chuyên gia GD đặc biệt. Những năm gần đây GDMN được quan tâm và đầu tư hơn. Vì vậy, vấn đề GDHN cho TKT trong độ tuổi MN cũng được nhiều tác giả đặc biệt quan tâm như: - Nghiên cứu giải pháp và thực trạng GDHN cho TKT tuổi mẫu giáo, luận văn thạc sĩ Phan Thị Ngọc Anh, Viện nghiên cứu chiến lược và chương trình Giáo dục Hà Nội 2004. 11 - Năm 2009, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam đã cho ra đời quyển “Quản lý trường, lớp dạy trẻ có nhu cầu đặc biệt” do Nguyễn Xuân Hải chủ biên.
Sách đề cập đến 4 chương, trong đó chương 3 và chương 4 đã nhấn mạnh nội dung cũng như biện pháp quản lí đội ngũ trong nhà trường nói chung và đối với trẻ có nhu cầu đặc biệt nói riêng được thực hiện theo các qui định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bên cạnh đó, tác giả cho ra đời nhiều cuốn sách liên quan đến vấn đề này như: “Giáo dục học trẻ khuyết tật”; “Giáo trình quản lý giáo dục hòa nhập”. - Tiếp theo, năm 2010, nhằm đáp ứng nhu cầu về QL GDHN cho các cơ sở GDHN người KT, Học viện Quản lí Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng và biên soạn tài liệu bồi dưỡng cán bộ QL về GDHN. Sách gồm các mô đun: GDHN và người KT, QL GDHN người KT và QL GDHN trong các cơ sở GD.
- Nguyễn Thị Tường Vân (2012), trong đề tài: “Công tác quản lí đội ngũ giáo viên trường mầm non có trẻ khuyết tật học hòa nhập tại Thành phố Hồ Chí Minh” có đưa ra nhận định rằng: “Giáo dục hòa nhập là môi trường mọi người thể hiện được thái độ ủng hộ và sự thừa nhận các nhu cầu của con người. Nó làm thay đổi kiểu suy nghĩ truyền thống về sự cô lập, sự khinh miệt và thành kiến những trẻ đặc biệt, thay vào đó các nhà giáo dục phải hoạt động và quan tâm với mọi trẻ và trong toàn bộ môi trường. Giáo dục hòa nhập mang ý nghĩa lao động tập thể, cuối cùng là trách nhiệm đối với toàn bộ học sinh và nhà trường”. - Quản lí GDHN cho trẻ tăng động trong trường MN hòa nhập, luận văn thạc sĩ Phạm Thị Thơm, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội 2015.
- Quản lí hoạt động GDHN cho TKT ở các trường MN, luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Anh, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội 2016. - Đặng Lộc Thọ (2017), với bài báo “Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật thông qua hoạt động nghệ thuật trong mô hình trường mầm non “Lấy trẻ làm trung tâm” được đăng trên Tạp chí Giáo dục số đặc biệt (Kì 1 tháng 8/2017) đã đưa ra những nhận định về các hoạt động GD nghệ thuật cho TKT theo mô hình lấy trẻ 12 làm trung tâm như: đưa TKT đến với thế giới hội họa, thế giới âm nhạc, các tác phẩm văn học, tích hợp hoạt động nghệ thuật trong các hoạt động GD khác (khám phá khoa học, làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với toán…). - Năm 2017, ấn phẩm “Cẩm nang quyền của trẻ em khuyết tật trong giáo dục hòa nhập” được xuất bản với sự tài trợ của Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam. Nội dung ấn phẩm có nêu rõ: quyền của TKT theo qui định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; chính sách GDHN dành cho TKT như: chính sách ưu tiên nhập học, chương trình GD, ưu đãi về miễn giảm học phí, cấp học bổng đối với TKT và chính sách đối với nhà giáo, cán bộ QLGD TKT.
Đánh giá chung về tổng quan Nhìn chung, có thể nói rằng tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, đã có nhiều nghiên cứu về GDHN cho TKT nói chung và các dạng KT cụ thể nói riêng. Các tác giả nêu trên đã nghiên cứu và đề cập đến việc tổ chức các hoạt động GDHN cho TKT trong trường MN từ nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu trên chưa có công trình nào nghiên cứu về QL việc thực hiện GDHN cho TKT trong trường MN thuộc phạm vi cấp quận/huyện. Do vậy, đây là vấn đề rất cần được nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở trường mầm non 1. Trẻ khuyết tật a. Quan niệm về trẻ khuyết tật trên thế giới Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC - United Nations Convention on the Rights of the Child), theo Điều 1 qui định: Trẻ em có nghĩa là bất kì người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn.