Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên, chiếm 7,06% dân số, trong đó có hơn 663 nghìn trẻ em khuyết tật trong độ tuổi từ 2 đến 17 tuổi. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò nền tảng trong việc định hình nhân cách và phát triển thể chất, trí tuệ cho trẻ em theo quy định tại Điều 23 Luật Giáo dục năm 2019. Quyền được chăm sóc và học tập hòa nhập của trẻ khuyết tật tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ tại Điều 35 Luật Trẻ em năm 2016 và Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT. Tuy nhiên, công tác quản lý giáo dục hòa nhập tại các cơ sở mầm non hiện nay vẫn gặp nhiều rào cản về cơ sở vật chất, năng lực chuyên môn và sự phối hợp liên ngành.

Công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của tác giả Đinh Thị Nguyệt Nhật (Trường Đại học Sài Gòn, năm 2022) với đề tài "Quản lí hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở các trường mầm non Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh" đã giải quyết trực tiếp khoảng trống thực tiễn này. Nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và phân tích toàn diện thực trạng công tác quản lý, từ đó đề xuất hệ thống 6 biện pháp quản lý mang tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập.

Phạm vi khảo sát của đề tài được triển khai tại 15 trường trên tổng số 47 trường mầm non thuộc địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, với chuỗi dữ liệu thực chứng thu thập trong 3 năm học liên tiếp từ 2018-2019 đến 2020-2021. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học quan trọng giúp hiện thực hóa Quyết định số 1190/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng đến mục tiêu đạt tỷ lệ 80% trẻ khuyết tật ở độ tuổi mầm non được tiếp cận giáo dục trong giai đoạn 2021-2025 và đạt 90% trong giai đoạn 2026-2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống lý luận dựa trên việc tích hợp thuyết quản lý chức năng kinh điển và các mô hình giáo dục đặc biệt hiện đại. Hệ thống tiếp cận gồm 2 khung lý thuyết trụ cột:

Thứ nhất là lý thuyết các chức năng quản lý của Henri Fayol và quan điểm quản lý giáo dục của các học giả Bùi Minh Hiền, Trần Kiểm. Quá trình quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập của người cán bộ quản lý (trọng tâm là Hiệu trưởng trường mầm non) được vận hành khép kín qua 4 khâu chức năng: Lập kế hoạch, Tổ chức thực hiện, Chỉ đạo điều hành và Kiểm tra đánh giá.

Thứ hai là mô hình giáo dục hòa nhập lấy trẻ làm trung tâm dựa trên Tuyên bố Salamanca của UNESCO năm 1994 và khung pháp lý Việt Nam. Mô hình này xác định giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chung người khuyết tật với người không khuyết tật ngay tại cơ sở giáo dục địa phương, tôn trọng sự đa dạng và loại bỏ mọi rào cản phân biệt đối xử.

Hệ thống khái niệm nền tảng trong luận văn bao gồm:

  • Giáo dục hòa nhập mầm non: Phương thức giáo dục chung giữa trẻ khuyết tật và trẻ bình thường trong trường mầm non nhằm tạo cơ hội bình đẳng phát triển.
  • Trẻ khuyết tật mầm non: Trẻ em từ 3 tháng đến 9 tuổi bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể, suy giảm chức năng theo 6 dạng tật quy định tại Luật Người khuyết tật năm 2010.
  • Kế hoạch giáo dục cá nhân: Văn bản cam kết và lộ trình can thiệp giáo dục được xây dựng dựa trên nhu cầu, khả năng thực tế của từng trẻ khuyết tật.
  • Quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập: Sự tác động có định hướng của Hiệu trưởng trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát toàn diện các nguồn lực giáo dục nhằm hỗ trợ trẻ khuyết tật phát triển tối đa tiềm năng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp (các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết năm học của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 6 giai đoạn 2018-2021) và nguồn dữ liệu sơ cấp thực chứng.

Cỡ mẫu khảo sát định lượng gồm 180 khách thể (30 cán bộ quản lý gồm Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và 150 giáo viên trực tiếp đứng lớp) tại 15 trường mầm non được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng từ 47 trường mầm non trên địa bàn Quận 6. Mẫu khảo sát định tính gồm 8 chuyên gia tham gia phỏng vấn sâu (4 lãnh đạo từ Ủy ban nhân dân và Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 6, cùng 4 cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán tại các trường Mầm non Rạng Đông 8, Rạng Đông 11, Rạng Đông 9 và Rạng Đông Quận 6).

Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng thống kê toán học với thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Kém/Không quan trọng đến 5: Tốt/Rất quan trọng). Việc lựa chọn phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác mức độ đạt được của từng tiêu chí quản lý, kiểm định độ tin cậy của thông tin qua việc đối chiếu giữa bảng hỏi và phỏng vấn sâu, đồng thời phân tích tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý số liệu được hoàn thành trong mốc thời gian năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại 15 trường mầm non Quận 6 trong giai đoạn 3 năm học (2018-2021) đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ nhận thức của đội ngũ về tầm quan trọng của giáo dục hòa nhập đạt mức rất cao. Khoảng 100% cán bộ quản lý và giáo viên tham gia khảo sát đều đánh giá việc cho trẻ khuyết tật đi học hòa nhập là hết sức cần thiết nhằm chống phân biệt đối xử và xây dựng cộng đồng nhân ái, với điểm trung bình đạt từ 4,20 đến 4,65 trên thang điểm 5.

Thứ hai, việc thực thi 4 chức năng quản lý có sự phân hóa rõ rệt. Khâu lập kế hoạch tiếp nhận hồ sơ và xếp lớp cho trẻ khuyết tật đạt mức độ tốt với điểm trung bình 4,15/5. Tuy nhiên, khâu lập kế hoạch và chỉ đạo xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân chỉ đạt mức trung bình khá (3,42/5), cho thấy các trường còn lúng túng trong việc thiết kế lộ trình can thiệp riêng biệt cho từng đối tượng học sinh.

Thứ ba, sự thiếu hụt nghiêm trọng về trang thiết bị và kỹ năng can thiệp chuyên biệt. Khoảng 80% giáo viên phản ánh chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành giáo dục đặc biệt. Đánh giá về điều kiện cơ sở vật chất và đồ dùng, đồ chơi chuyên biệt cho trẻ khuyết tật chỉ đạt mức điểm trung bình thấp nhất là 2,85/5 tại 15 trường khảo sát.

Thứ tư, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hòa nhập còn mang tính hình thức. Khoảng 65% trường học vẫn áp dụng phương pháp đánh giá định lượng thông thường thay vì đánh giá tiến bộ định tính dựa trên mục tiêu của Kế hoạch giáo dục cá nhân theo đúng Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc thiếu biên chế chuyên gia tâm lý học đường và giáo viên giáo dục đặc biệt trong các trường mầm non công lập. Kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị phục hồi chức năng còn hạn chế, trong khi chương trình đào tạo sư phạm mầm non trước đây chưa tích hợp đầy đủ học phần giáo dục hòa nhập.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trước đây tại Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thị Tường Vân (năm 2012) và tại Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (năm 2016), nghiên cứu tại Quận 6 cho thấy nhận thức của đội ngũ quản lý đã có sự tiến bộ vượt bậc, tỷ lệ huy động trẻ khuyết tật đến trường tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, rào cản về việc điều chỉnh phương pháp dạy học đa trình độ và kỹ năng xử lý hành vi điển hình của trẻ tự kỷ vẫn là thách thức mang tính hệ thống chưa được tháo gỡ triệt để.

Dữ liệu khảo sát tính tương quan được trình bày trực quan qua biểu đồ phân tán giữa tính cấp thiết và tính khả thi của 6 biện pháp quản lý. Kết quả cho thấy toàn bộ 6 biện pháp đều nằm ở góc phần tư tích cực (điểm cấp thiết dao động từ 4,32 đến 4,68 và điểm khả thi dao động từ 4,15 đến 4,52), khẳng định tính phù hợp tuyệt đối với thực tiễn cơ sở giáo dục mầm non đô thị.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống 6 giải pháp hành động được đề xuất nhằm chuẩn hóa quy trình quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập tại các trường mầm non:

  1. Nâng cao nhận thức xã hội và nội bộ nhà trường: Tổ chức định kỳ 2 đợt truyền thông mỗi năm học về quyền trẻ em khuyết tật, phấn đấu đạt tỷ lệ 95% phụ huynh học sinh trong trường đồng thuận và tích cực phối hợp hỗ trợ trẻ khuyết tật hòa nhập.
  2. Chuẩn hóa quy trình lập và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân: Ban hành và áp dụng thống nhất quy trình 4 bước lập kế hoạch cá nhân, đảm bảo 100% trẻ khuyết tật nhập học đều có hồ sơ theo dõi tiến bộ hàng tháng, đánh giá điều chỉnh định kỳ 1 học kỳ/lần.
  3. Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn đặc thù cho giáo viên: Phối hợp cùng các trường đại học sư phạm tổ chức tối thiểu 4 khóa tập huấn chuyên sâu/năm về kỹ năng nhận diện sớm, can thiệp hành vi và phương pháp dạy học cá biệt hóa cho 100% giáo viên dạy lớp hòa nhập.
  4. Tích hợp giáo dục hòa nhập qua hoạt động trải nghiệm: Thiết kế và tổ chức ít nhất 2 hoạt động dã ngoại, giao lưu văn nghệ, thể dục thể thao mỗi học kỳ có sự tham gia bình đẳng của trẻ khuyết tật cùng các bạn cùng trang lứa.
  5. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng hòa nhập: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của trẻ dựa trên 6 lĩnh vực phát triển (thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tự phục vụ, tình cảm xã hội, thẩm mỹ), thực hiện kiểm tra định kỳ 2 lần/năm học với trọng tâm là hiệu quả can thiệp thực tế.
  6. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục: Vận động nguồn lực từ các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và ngành y tế để tài trợ trang thiết bị chuyên dụng, đặt mục tiêu xây dựng ít nhất 1 phòng hỗ trợ chức năng tại mỗi cụm trường mầm non trên địa bàn Quận 6.

Về phân cấp khuyến nghị:

  • Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh: Tham mưu ban hành chính sách phụ cấp đặc thù cho giáo viên dạy lớp hòa nhập mầm non và quy định chuẩn cơ sở vật chất phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt.
  • Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 6: Thành lập Tổ tư vấn chuyên môn giáo dục hòa nhập cấp quận, định kỳ tổ chức sinh hoạt chuyên đề liên trường 1 quý/lần.
  • Ban Giám hiệu các trường mầm non: Giữ vững định mức tối đa không quá 2 trẻ khuyết tật trong 1 nhóm/lớp, trích tối thiểu 10% ngân sách mua sắm đồ dùng dạy học hàng năm để trang bị đồ chơi phục hồi chức năng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cán bộ quản lý giáo dục mầm non (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn): Cung cấp cẩm nang điều hành 4 khâu chức năng chuẩn hóa, các biểu mẫu quản lý hồ sơ và phương pháp giám sát chuyên môn giáo dục hòa nhập tại 47 trường mầm non trên địa bàn đô thị.
  2. Giáo viên mầm non trực tiếp dạy lớp hòa nhập: Cung cấp hệ thống phương pháp điều chỉnh dạy học (đa trình độ, trùng lặp giáo án, hợp tác nhóm) và quy trình 4 bước lập Kế hoạch giáo dục cá nhân để áp dụng trực tiếp trong giảng dạy hàng ngày.
  3. Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục và Giáo dục đặc biệt: Cung cấp bộ công cụ nghiên cứu thực chứng hoàn chỉnh gồm phiếu hỏi 180 khách thể, thang đo Likert 5 mức độ và phương pháp phân tích ma trận tương quan giữa tính cấp thiết và khả thi.
  4. Phụ huynh có con em khuyết tật và các tổ chức xã hội: Cung cấp cơ sở pháp lý, giúp gia đình hiểu rõ quyền lợi theo Luật Trẻ em năm 2016, phương pháp phối hợp cùng nhà trường lập mục tiêu can thiệp và theo dõi sự tiến bộ của trẻ tại nhà.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mỗi lớp học hòa nhập ở trường mầm non được tiếp nhận tối đa bao nhiêu trẻ khuyết tật? Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT, mỗi lớp học hòa nhập ở cấp học mầm non bố trí không quá 2 trẻ khuyết tật. Trong trường hợp đặc biệt, Hiệu trưởng căn cứ vào nhu cầu thực tế và năng lực của giáo viên để sắp xếp linh hoạt, đảm bảo mọi trẻ có nhu cầu đều được đến trường.

  2. Trẻ khuyết tật khi nhập học mầm non có được hưởng ưu tiên về độ tuổi không? Căn cứ Điều 2 Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC, trẻ khuyết tật được quyền nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung tối đa là 3 tuổi. Do đó, độ tuổi của trẻ khuyết tật theo học hòa nhập tại các trường mầm non có thể kéo dài từ 3 tháng đến 9 tuổi.

  3. Kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật gồm những bước thực hiện nào? Quy trình xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân gồm 4 bước bắt buộc: (1) Khảo sát tìm hiểu nhu cầu, năng lực và môi trường phát triển của trẻ; (2) Thiết lập mục tiêu ưu tiên và lập kế hoạch giáo dục; (3) Tổ chức thực thi kế hoạch thông qua điều chỉnh chương trình dạy học; (4) Đánh giá tiến bộ định kỳ theo từng tháng và từng học kỳ.

  4. Dạng khuyết tật nào xuất hiện phổ biến nhất tại các trường mầm non Quận 6? Theo kết quả khảo sát thực tế tại 15 trường mầm non Quận 6, bên cạnh các dạng khuyết tật vận động, nghe, nói, nhìn theo Luật Người khuyết tật năm 2010, nhóm trẻ rối loạn phổ tự kỷ và chậm phát triển ngôn ngữ, trí tuệ chiếm tỷ lệ áp đảo trên 60% tổng số trẻ học hòa nhập.

  5. Đánh giá kết quả giáo dục đối với trẻ khuyết tật học hòa nhập được thực hiện như thế nào? Theo quy định hiện hành, việc đánh giá kết quả của trẻ khuyết tật được thực hiện theo nguyên tắc động viên sự tiến bộ, căn cứ trực tiếp vào mục tiêu đề ra trong Kế hoạch giáo dục cá nhân của từng trẻ, giảm nhẹ yêu cầu đối với chương trình chung và miễn đánh giá các nội dung được giảm tải.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 4 chức năng quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại cấp học mầm non.
  • Khảo sát thực chứng sâu rộng tại 15 trên tổng số 47 trường mầm non Quận 6 với 180 cán bộ, giáo viên và 8 chuyên gia phỏng vấn sâu trong 3 năm học (2018-2021).
  • Đánh giá chính xác thực trạng: Đội ngũ có nhận thức rất cao (điểm trung bình trên 4,20/5) nhưng năng lực xây dựng kế hoạch cá nhân và điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế (2,85/5).
  • Đề xuất hệ thống 6 biện pháp quản lý đồng bộ, được kiểm chứng đạt tính cấp thiết (trên 4,32/5) và tính khả thi (trên 4,15/5) rất cao.
  • Đóng góp giải pháp hiện thực hóa mục tiêu quốc gia đạt 80% trẻ khuyết tật mầm non tiếp cận giáo dục đến năm 2025 và 90% đến năm 2030 theo Quyết định số 1190/QĐ-TTg.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thị Nguyệt Nhật là tài liệu khoa học mẫu mực, mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý giáo dục mầm non đô thị. Các cơ sở giáo dục mầm non, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý nên chủ động tham khảo toàn văn công trình để triển khai đồng bộ các giải pháp, góp phần kiến tạo môi trường giáo dục nhân văn, bình đẳng cho mọi trẻ em.