phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của giáo dục hòa nhập học sinh chậm phát triển trí tuệ Chƣơng 2. Thực trạng giáo dục hòa nhập học sinh chậm phát triển trí tuệ ở trƣờng Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Biện pháp giáo dục hòa nhập học sinh chậm phát triển trí tuệ ở trƣờng Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HÒA NHẬP HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ 1. Học sinh chậm phát triển trí tuệ 1. Khái niệm học sinh khuyết tật Theo UNESCO, khuyết tật là hiện tƣợng đa chiều gây ra do tác động qua lại giữa con ngƣời và môi trƣờng.
Theo WHO (Tổ chức Y tế Thế giới): Khuyết tật là tình trạng do khiếm khuyết, giảm chức năng gây nên, cản trở ngƣời đó thực hiện vai trò của mình để tồn tại, độc lập trong cộng đồng, trong lúc những ngƣời khác thực hiện đƣợc. Nguyễn Thị Hoàng Yến: Trẻ khuyết tật là những trẻ có khiếm khuyết một phần thể chất hoặc tinh thần nên không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống của mình trong xã hội (ăn uống, đi lại, vui chơi, sinh hoạt. Đối với đề tài nghiên cứu “Giáo dục hòa nhập học sinh chậm phát triển trí tuệ ở trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” chúng tôi thống nhất khái niệm về trẻ khuyết tật theo Tiến sĩ Phạm Minh Mục: “Trẻ khuyết tật là trẻ em do tổn thƣơng về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động vui chơi, học tập, lao động”. * Phân loại Căn cứ vào khó khăn đặc thù của trẻ khuyết tật, có các dạng khuyết tật chính sau: - Trẻ khiếm thính: khó khăn về nghe - Trẻ khiếm thị: khó khăn về nhìn - Trẻ khuyết tật vận động: khó khăn về vận động - Trẻ khuyết tật ngôn ngữ: khó khăn về nói và sử dụng ngôn ngữ - Trẻ chậm phát triển trí tuệ.
Ngoài ra, còn có các dạng khuyết tật khác có thể có ở trẻ nhƣ: mất cảm giác (phong), tự kỷ, động kinh, hen, bệnh về tim mạch… gây khó khăn trong học tập và sinh hoạt của trẻ. Khái niệm học sinh chậm phát triển trí tuệ Có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về trẻ chậm phát triển trí tuệ. - Theo Benda – Ngƣời có quan điểm dựa trên khả năng thích ứng của cá nhân: “Một ngƣời chậm phát triển trí tuệ là ngƣời không có khả năng điều khiển bản thân và xử lý các vấn đề riêng của mình, hoặc phải đƣợc dạy mới biết làm. Họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát và chăm sóc cho sức khoẻ của bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng”.
- Theo nhà bác học ngƣời Nga – Luria (1966): Trẻ chậm phát triển trí tuệ là những trẻ chịu tổn thƣơng về não bộ (thần kinh trung ƣơng) làm cho hoạt động nhận thức bị giảm sút dƣới mức bình thƣờng hoặc bị phá hủy. Có 2 tiêu chí để đƣa trẻ vào dạng chậm phát triển trí tuệ là não bị tổn thƣơng và sinh hoạt nhận thức bị phá hủy. Tuy nhiên, nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy có tới 40% trẻ chậm phát triển trí tuệ không bị tổn thƣơng não bộ cho nên ngƣời ta nghi ngờ về tính chính xác của những định nghĩa trên. - Theo nhà bác học ngƣời Mĩ – Grossman: Chậm phát triển trí tuệ là tình trạng chức năng trí tuệ tổng quát thấp hơn mức bình thƣờng dẫn đến hành vi thích ứng kém và xảy ra trong giai đoạn phát triển.
Theo ông, trẻ chậm phát triển trí tuệ phải là trẻ có chức năng trí tuệ thấp và hành vi thích ứng kém. - Theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV (DSM- IV), tiêu chí chẩn đoán trẻ chậm phát triển trí tuệ bao gồm: + Chức năng trí tuệ dƣới mức độ trung bình: Chỉ số trí tuệ đạt gần 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân. + Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/liên cá nhân, sử dụng tiện ích công cộng, tự định hƣớng, kĩ năng học đƣờng chức năng lao động, giải trí, sức khoẻ và an toàn. + Hiện tƣợng trẻ chậm phát triển trí tuệ xuất hiện trƣớc 18 tuổi.
Nhƣ vậy, theo DSM-IV đặc điểm cơ bản của khuyết tật trí tuệ là hoạt động trí tuệ dƣới mức trung bình (Tiêu chí A), bị hạn chế đáng kể về hai trong số 7 những lĩnh vực hành vi thích ứng đã đề cập ở trên (Tiêu chí B), khuyết tật xuất hiện trƣớc 18 tuổi. - Theo bảng phân loại của Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mĩ (AAMR) năm 1992: Trẻ chậm phát triển trí tuệ liên quan đến những hạn chế cơ bản về các chức năng hiện tại với những đặc điểm nhƣ sau: + Chức năng trí tuệ thấp hơn mức trung bình (có chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần trắc nghiệm cá nhân). + Trẻ gặp hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng nhƣ giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hƣớng, kỹ năng học đƣờng chức năng, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn. + Hiện tƣợng chậm phát triển trí tuệ xuất hiện trƣớc 18 tuổi.
+ Trẻ chậm phát triển trí tuệ không phải là trẻ khó khăn về điều kiện kinh tế, bị bỏ rơi, không đƣợc giáo dục, ốm đau, rối nhiễu tâm lý, trẻ khiếm thính, khiếm thị. Nhƣ vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về trẻ chậm phát triển trí tuệ tuy nhiên chúng tôi thừa nhận khái niệm: “Trẻ chậm phát triển trí tuệ là những trẻ bị hạn chế ít nhất hai lĩnh vực hành vi dẫn đến không thích nghi được với xã hội, có trí thông minh dưới mức trung bình (có chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần trắc nghiệm cá nhân). Những trẻ thuộc dạng này thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, sinh hoạt và nhận thức thế giới xung quanh. Phân loại các mức độ trẻ chậm phát triển trí tuệ Theo bảng phân loại trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV (DSM-IV) có 4 mức độ chậm phát triển trí tuệ nhƣ sau: - CPTTT nhẹ: chỉ số IQ từ 50 – 55 tới xấp xỉ 70.
- CPTTT trung bình: chỉ số IQ từ 35 – 40 tới 50 – 55. - CPTTT nặng: chỉ số IQ từ 20 – 25 tới 35 – 40. - CPTTT rất nặng: chỉ số IQ dƣới 20 hoặc 25. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nhẹ Trẻ chậm phát triển trí tuệ nhẹ có thể đạt tuổi trí tuệ từ 7 đến 12 tuổi (IQ từ 50-55 đến khoảng 70).
Theo Jean Will Fritz Piaget, đây là giai đoạn thao tác cụ thể. Trẻ chƣa thể suy nghĩ theo cách trừu tƣợng. Trong giai đoạn trƣớc khi đến trƣờng (0-5 tuổi), trẻ phát triển những kỹ năng giao tiếp và xã hội. Trẻ có những khuyết tật nhỏ trong các lĩnh vực vận động cảm giác và thƣờng khó phân biệt đƣợc với những trẻ không bị chậm phát triển trí tuệ.
Đến cuối thời kỳ thanh thiếu niên, trẻ có thể đạt đƣợc những kỹ năng học tập ở mức độ xấp xỉ với lớp 6. Trẻ cần đƣợc dạy những môn học cơ bản tại trƣờng ở mức độ tối đa mà khả năng của trẻ cho phép. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức trung bình Theo J.Piaget, trẻ chậm phát triển trí tuệ trung bình có thể đạt đến tuổi trí tuệ từ 4 đến 7 tuổi (IQ từ 35-40 đến 50-55). Trẻ chậm phát triển trí tuệ trung bình có thể xây dựng những khái niệm hữu ích dựa trên kinh nghiệm, nhƣng chủ yếu vẫn quan tâm đến những trải nghiệm trực tiếp thông qua tiếp nhận.
Thƣờng cố gắng giải quyết vấn đề bằng nguyên tắc “thử và sai”. Đối tƣợng này trải nghiệm niềm vui khi thành công và đồng thời cũng sẽ trải nghiệm về sự thất bại. Nỗi sợ thất bại có thể cản trở hoạt động của trẻ. Trẻ chậm phát triển trí tuệ trung bình có thể học để đi lại độc lập trong những địa điểm quen thuộc.
Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nặng Theo J.Piaget, trẻ chậm phát triển trí tuệ nặng chỉ đạt đến tuổi trí tuệ khoảng 2 và 4 tuổi (IQ từ 20-25 đến 35-40). Đây là giai đoạn tiền thao tác trong quá trình phát triển. Trong những năm đầu thời kỳ ấu thơ, trẻ chậm phát triển trí tuệ nặng không phát triển hoặc phát triển rất ít ngôn ngữ nói. Khi lớn lên, trẻ có thể học nói nhƣng giao tiếp vẫn rất đơn giản.
Những kỹ năng của trẻ không dựa nhiều trên sự hiểu biết về bản chất sự vật mà chủ yếu dựa trên những trình tự về hành động mà trẻ đã đƣợc dạy kỹ lƣỡng. Trẻ quen với những chuỗi hành động (ví dụ: Từ thứ 2 đến thứ 6, buổi sang trẻ thức dậy vào, đầu tiên là xuống giƣờng, đi vệ sinh, sau đó thay trang phục đi học, ăn sáng và đến trƣờng) nên chúng sẽ rất lúng túng khi một mắc xích trong chuỗi bị đứt đoạn vì một lý do không biết trƣớc (ví 9 dụ: hôm đó trẻ không phải đến trƣờng nên không cần thay trang phục đi học). Mặc dù trẻ chậm phát triển trí tuệ nặng vẫn có khả năng phân biệt giữa bản thân và những ngƣời khác, nhƣng trẻ không thể đặt mình vào vị trí ngƣời khác, trẻ có thái độ coi bản thân là trung tâm. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức rất nặng Theo J.Piaget, trẻ chậm phát triển trí tuệ rất nặng sẽ đạt đến tuổi trí tuệ là 0- 2 tuổi (IQ < 20-25).
Hầu hết trẻ đƣợc chẩn đoán là chậm phát triển trí tuệ rất nặng có vấn đề về thần kinh, đây đƣợc coi là nguyên nhân gây ra chậm phát triển trí tuệ. Trẻ chậm phát triển trí tuệ rất nặng có sự phát triển nhận thức ở giai đoạn vận động - cảm giác, nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh chỉ hạn chế ở những gì trẻ nhận đƣợc thông qua cảm giác và những hoạt động vận động. Ban đầu, chỉ những gì mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy hoặc nếm thấy một cách trực tiếp mới tồn tại; còn những gì trẻ không nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy hoặc nếm thấy thì không tồn tại. Đặc điểm của học sinh chậm phát triển trí tuệ 1.