Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Theo thời gian của tiến trình lịch sử, giáo dục HSKT đã trải qua ba mô hình giáo dục khác nhau. Mô hình giáo dục chuyên biệt ra đời từ thế kỳ XVI.
Nó đánh dấu bước phát triển của giáo dục học sinh KT với tính ưu việt và phù hợp với giai đoạn lịch sử. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, mô hình giáo dục hội nhập ra đời với những đổi mới tích cực. Trên cơ sở phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, mô hình GDHN được ra đời vào những năm 70 của thế ký XX. Theo xu thế thời đại, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về GDHN, cách thức tổ chức và quản lý GDHN.
Năm 1870, ở các trường THPT của Mỹ xuất hiện ý tưởng đưa trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giáo dục cùng với trẻ bình thường, khái niệm này dần được sử dụng nhiều hơn ở các tuyên ngôn của Liên hợp quốc “chỉ một khái niệm linh hoạt để biểu đạt quan điểm quây quần lại chúng ta sẽ tốt hơn lên” Và hình thức dạy học hòa nhập xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1970 sau đó trở thành quan điểm tuyên ngôn của Liên hợp quốc. Quan điểm này đã được nhiều chuyên gia ủng hộ như Tony Booth, Mel Ainscow và Irine Lopez [dẫn theo 20, tr. Trong tài liệu “Hướng dẫn thực hiện GDHN và tại các hội nghị, hội thảo lớn, hai tác giả Tony Booth và Mel Ainscow đã đề cập đến việc GDHN gắn với trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt, đây là hoạt động phù hợp trong giáo dục với trẻ có nhu cầu đặc biệt [65, tr. Hai tác giả nhấn mạnh cần phải thống nhất hướng dẫn thực hiện GDHN quan tâm tới tất cả HS gặp phải những trở ngại đối với việc học tập và sự tham gia vì bất cứ lý do gì [65, tr.
Và hai ông đã nhấn mạnh khi hướng dẫn thực hiện GDHN rằng: “Khi bàn đến GDHN, người ta liên hệ ngay với các em học sinh khuyết tật hay các em được xem là cần nhu cầu giáo dục đặc biệt”. Tony Booth và Mel Ainscow [65] đề xuất việc xây dựng môi trường GDHN trong nhà trường gồm ba thành tố, cụ thể là tạo dựng văn hóa hòa nhập bằng việc xây dựng cộng đồng và tạo lập các giá trị hòa nhập; xây dựng chính sách trong hòa nhập và thực hiện giáo dục hòa nhập bằng việc tổ chức hoạt động học tập và huy động tối đa các nguồn lực hỗ trợ. Trong GDHN, các nguyên tắc về việc thúc đẩy chất lượng hòa nhập được nhiều chuyên gia bàn đến. Vào năm 2010, cơ quan phát triển giáo dục đặc biệt châu Âu [60] đã nói về những nguyên tắc chính vô cùng quan trọng cho việc thúc đẩy chất lượng GDHN.
Các nội dung của tổ chức được đưa ra như chìa khóa giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo các nguyên tắc chính được trình bày trong báo cáo Các nguyên tắc quan trọng để thúc đẩy chất lượng giáo dục hòa nhập (2009). Và 7 lĩnh vực chính của nguyên tắc quan trọng được xác định trong báo cáo đã được sử dụng như là điểm 6 khởi đầu cho GDHN. Tác giả Eileen Winter và Daul O’Raw [59] đã khẳng định trong nhà trường thực hiện hòa nhập, để GDHN đạt kết quả như mong muốn cần tới 10 tiêu chí: (1) Cung cấp/phổ biến thông tin về GDHN; (2) Các trang thiết bị/vật dụng trong nhà trường; (3) Chính sách hòa nhập của nhà trường; (4) Kế hoạch giáo dục cá nhân; (5) Sự tương tác giữa các học sinh; (6) Cán bộ công nhân viên; (7) Các liên kết bên ngoài (nguồn lực bên ngoài); (8) Đánh giá kết quả học tập; (9) Chương trình học; (10) Chiến lược/phương pháp dạy học. Nhà nghiên cứu Bornstein H, (1990) nhận định rằng: Khi một trẻ có nhu cầu đặc biệt học trong một lớp của trường hoà nhập thì trẻ đó bên cạnh yêu cầu cần tham gia hoạt động học tập như những trẻ bình thường khác lại cần được đáp ứng nhu cầu riêng của bản thân.
Vì vậy, việc đánh giá kết quả học tập của trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt phải áp dụng riêng đối với từng lĩnh vực phát triển hoặc vẫn có thể đánh giá theo tiêu chí đánh giá chung như mọi trẻ bình thường khác. Điều này phụ thuộc vào khả năng và nhu cầu của trẻ. Chuyên gia Lisa R. Churchill, Rita Mulholland và Michelle R.
Cepello [64] dựa trên nghiên cứu đã mô tả và định ra những tiêu chí phân loại, mức độ tật. Tác giả cho rằng: Việc nhận dạng và phát hiện trẻ có nhu cầu GDĐB cần được phối hợp với các cơ quan, tổ chức. Và tất cả các việc làm này cần xây dựng trong kế hoạch mỗi năm học của nhà trường và được đưa vào kế hoạch giáo dục chung của nhà trường. Công tác nhận dạng và phát hiện trẻ có nhu cầu GDĐB cần được xây dựng kế hoạch cụ thể; đồng thời phải có sự tham gia của các tổ chức, cơ quan chuyên môn.
Tác giả cũng định hướng chung cho việc tổ chức, thực hiện giáo dục TKT trong trường phổ thông trên cơ sở xây dựng kế hoạch thực hiện năm học của mỗi nhà trường. Ngoài ra, tác giả cũng nêu rõ trong GDHN cần xây dựng phương pháp tiếp cận với nhiều vấn đề mang tính thực tiễn: xác định nhu cầu đối với việc hướng dẫn riêng biệt cho trẻ không được hưởng chương trình giáo dục thường xuyên. Nhóm tác giả Jean B.Crockett, Bonnie Billingsley, Mary Lynn Boscardin trong “Handbook of Leadership and Administration for Special Education” (2012) [62], Prubudddha Bharata (2005) cho rằng: Để thực hiện hoạt động can thiệp và GDHN trẻ em có nhu cầu GDĐB đạt hiệu quả, cần tập rung chú ý đến các chương trình can thiệp và giáo dục đặc biệt, chuẩn bị và cung cấp các thiết bị, dụng cụ hỗ trợ giảng dạy, phát triển các kỹ năng bổ sung. Các tác giả trên đã bàn đến việc thực hiện chương trình giáo dục trong GDHN, như GDHN được thực hiện chương trình giáo dục phổ thông có điều chỉnh hay có thêm chương trình GDĐB bên cạnh chương trình giáo dục bình thường; sự cần thiết của các phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học và các kỹ năng đặc thù hỗ trợ cho can thiệp và hỗ trợ.
Trong nghiên cứu của mình, các tác giả cũng cho rằng mục tiêu hết sức quan trọng mà GDĐB cần đạt được là phát triển kỹ năng xã hội, kỹ năng sống. Đặc biệt các tác giả nhấn mạnh đến vai trò của quản lý và việc tổ chức các 7 hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục trẻ KT và trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã khẳng định: “Chìa khoá của nền giáo dục hòa nhập phù hợp là Kế hoạch giáo dục cá nhân HSKT” Tác giả Heward, “Exceptional Children: An Introduction to Special Education” (2005) [61] nhận định rằng cần hướng tới GDHN trong trường học. GDHN với chương trình đảm bảo, sự hỗ trợ, cách đánh giá đúng, phù hợp sẽ tạo được sự tiến bộ cho học sinh có nhu cầu GDĐB. Tác giả quan niệm GDHN là mô hình giáo dục tối ưu nhất dành cho TKT.
Nếu thực hiện tốt ba yếu tố: chương trình giáo dục; phối hợp hỗ trợ từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; đánh giá về khả năng, nhu cầu sẽ đảm bảo được sự hoà nhập và độc lập của trẻ KT trong và sau khi ra trường. Ngoài ra, nhà nghiên cứu Kri International Corp (2002) [63], trong The National school mapping and micro-planning project, Unesco đã nhấn mạnh đến việc căn cứ vào thực tiễn nhu cầu giáo dục trước mắt và phải đón đầu sự phát triển để quy hoạch mạng lưới phòng hỗ trợ GDĐB. Việc quy hoạch mạng lưới phòng hỗ trợ GDĐB có thể căn cứ vào phân bố địa lý dân cư để thực hiện. Có thể nói, hiện nay, giáo dục hoà nhập là một xu thế, mang tất yếu của thời đại.
Vì vậy, tại Hội nghị về giáo dục cho trẻ khuyết tật tại Agra, Ấn Độ (3/1998) do UNESCO tổ chức đã khẳng định xu hướng: Giáo dục hoà nhập cho mọi trẻ em và phải tiến hành giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật. Những nghiên cứu ở trong nước Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang ưu tiên đầu tư cho giáo dục, tập trung mọi nguồn lực để giáo dục ngày càng phát triển mạnh mẽ và bền vững “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [1]. Đối tượng học sinh khuyết tật được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, trong những năm gần nay, việc quan tâm đến trẻ khuyết tật càng thể hiện rõ nét. Ngày 28 tháng 05 năm 2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1463/QĐ-BGDĐT về ban hành kế hoạch thực hiện “Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tại cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025” bao gồm các nhiệm vụ liên quan tới khảo sát thực trạng và nghiên cứu các mô hình giáo dục phù hợp cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam [2] và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021 - 2030 trong đó phấn đấu đến năm 2030 xây dựng chương trình, sách giáo khoa cho trẻ em khuyết tật.
Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành các văn bản quy định về các chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục cho trẻ em khuyết tật như Nghị định số 86/2015/NĐ-CP và Nghị định số 81/2021/NĐ- CP có nội dung về miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em khuyết tật. Có thể nói rằng, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống khung pháp lý, các quy định pháp luật, chính sách khá chặt chẽ bảo đảm và thúc đẩy quyền của trẻ em khuyết tật trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó giáo dục luôn được xem là quyền cơ bản và quan trọng (UNICEF, 2018). 8 Tại Đại hội Đảng bộ thị xã Điện Bàn lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2020-2025 nhấn mạnh nhiệm vụ đối với giáo dục “Tiếp tục thực hiện các giải pháp đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo chủ trương, nghị quyết của Đảng, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục học sinh khuyết tật. Theo tiến trình lịch sử, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục học sinh khuyết tật, cụ thể là giáo dục hòa nhập.
Giáo dục hòa nhập (GDHN) là xu thế tất yếu của thời đại hiện nay và được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện [55].