CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY HOAT DONG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở ngoài nước Từ đầu thế kỷ XX, gắn liền với hoạt động cách mạng của mình, VI. Lénin và những người Bônsêvích chân chính đã thúc đẩy khoa học lịch sử nói chung, 'GDĐP nói riêng ở nước Nga phát triển.
Từ cách mạng XHCN tháng Mười (1917), V. Lênin và nhà nước Xô viết rất quan tâm đến nhiệm vụ bảo tồn các di sản văn hóa của các địa phương, nghiên cứu, biên soạn, giáo dục lịch sử, trong đó có GDĐP. Điều đó được thể hiện trong lời kêu gọi của Uỷ ban Hành pháp Xô viết với đại biểu công nhân và binh lính Pêtorôgrats tháng 11/1917: “Hỡi đồng bảo! Không làm hư hỏng một viên đá, hãy giữ tất cả các đài kỷ niệm, nhà cửa, cô v: iệu, tất cả cái đó là lịch sử, niềm tự hào của đồng bào”. Tiếp sau đó, c: lệnh của chính quyền lăng ký và bảo vệ di vật nghệ thuật cô xưa”; sắc lệnh ngày 01/6/1918 về *Tổ chức lai va tap trung lưu trữ” v.
Với sự quan tâm đó, nền sử học Xô viết nói chung, ngành. giáo dục địa phương nói riêng, việc biên soạn các tác phẩm lịch sử với nhiều cơ quan quan lý, tổ chức nghiên cứu GDĐP đã ra đời: đội ngũ làm sử cũng như việc dạy và học LSĐP được triển khai trong hệ thống trường học. Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay là một trong những nước quan tâm đến công tác địa phương từ rất sớm. Ngay từ đầu thế kỷ XVIH, Ngã.
Hoàng Pie đệ nhất đã chỉ dụ: “Mọi sự tìm kiếm của các nhà nghiên cứu đều phải báo lên Nga Hoàng. Nhà vua sẽ trọng thưởng cho những ai có công tìm ra cổ vật trong phạm vi vương quốc Nga”. Trong thời gian này, cuốn Lịch sứ địa phương đầu tiên với tựa đề được biên soạn. Lômônônốp biên soạn tác phẩm về lịch sử các mặt của từng tỉnh, thành phố.
Cuối thế kỷ XVIII, nhiều tác phẩm chuyên khảo về các vùng miễn khác nhau của nước Nga được xuất bản, như “Đjđ hình vùng Orenbua”, “Những kiến thức lịch sử sơ giản về dân tộc Đơvin”, “Sơ yếu lịch sử thành phố Ackhanghen”. Dic biét, một giáo viên trung học đã biên soạn đến 20 cuốn sách về LSĐP. Tại Mỹ, nghiên cứu giáo dục địa phương rất được coi trọng; từ những năm. 1980, GDĐP đã được đưa vào chương trình day học Lịch sử và Xã hội học ở tắt cả các cấp lớp.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu, giáo dục học đã lập nên những. trang web riêng về GDĐP (AASLH - The American Association for State and Local History ); 6 d6, c6 thé tray cap rat nhiéu nguồn tài nguyên phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy GDĐP. Tại Anh, đầu thế kỷ XX, GDĐP là nội dung được khuyến khích trong dạy. học lịch sử ở trường phổ thông.
Hiện nay, nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu và dự án dạy GDĐP ở Anh rất phong phú, đa dạng. Cuốn "Giảng dạy lịch sử địa phương” của tic gid W. Stephen, bin tiéng Anh (W. Stephen, 1977), "Teaching local history", Manchester University Press, được sử dụng như một tài liệu tham khảo rất có giá trị trong lĩnh vực đạy học GDĐP trong nhà trường sự phạm và phổ thông tại nước Anh.
chau Âu đã nhận ra tính khu biệt của văn hóa vì thế vấn đề nghiên cứu. địa phương học và khu vực học rất phát triển. Các thuyết “khuếch tán văn hóa” ở Tây Âu thế ki XIX (A.Bradford, Perxisk), trường phái văn hóa lịch sử ở Đức Ao (W.Rats), trường phái “Age and Area” cua Bac Mi, lí thuyết vùng. văn hóa của nhân chủng học Hoa Kì (F.Boas), khu vực lịch sử văn hóa (Xô Viết).
đã tạo nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu địa phương học, khu vực. Qua đó, chương trình giáo dục cũng thừa hưởng thành quả và ý thức được. việc tạo dựng nội dung học về địa phương (William E. Đi tiên phong trong lĩnh vực giáo dục về địa phương học là ngành địa lí.Berg gọi địa phương học là môn địa lí quê hương.
Bộ môn địa phương, học xem địa lí là trung tâm nhưng rất cần thiết với tất cả các ngành khác. 9 địa phương học chia ra thành địa phương học của nhà nước, địa phương học nhà trường, địa phương học quần chúng. Trong đó, địa phương học nhà trường được hiểu là những hoạt động, nội dung do HS tiến hành nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của GV (Lâm Quang Dốc, 2014). Cuốn sách Cẩm nang quốc tế về nghiên cứu chương trình đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu chương trình thế giới và giới thiệu chương trình tiêu biểu của các quốc gia.
Cuốn sách có 2 phần: phần 1 giới thiệu về nghiên cứu chương trình thế giới với 4 bài viết, tập trung vào các vấn đề lí luận, hướng tới chương, trình và giáo dục toàn cầu. Phần 2 gồm 24 bài viết về chương trình các quốc gia. Trong đó chương 7 viết về Hướng dẫn Chương trình ở Úc: hướng tới một cây chương trình địa phương của lĩnh vực chương trình. Hướng dẫn chương trình ở Úc được thực hiện từ những năm gần đây.
Đầu năm 1980, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng Viện nghiên cứu chương trình (Curruculum Studies Association - ACSA). Trong chương đó, Bill Green (Charles Stuart University) đã tổng thuật các quan niệm về chương trình và chương trình địa phương ở Úc. Ông điểm qua quan điểm của (Bernstein, 1975), cho rằng nguyên tắc cao nhất là cố gắng lựa chọn, tổ chức và đánh giá những gì xã hội coi như kiến thức có giá trị. Điều này là bởi những kiến thức lựa chọn, nó được dạy ra sao và đánh giá như thế nào.
trong nhà trường là vấn đề trọng tâm của cá nhân và xã hội". Tác giả Moore cũng đưa ra quan điểm qua nghiên cứu đã nhận định rằng “những gì chúng ta biết ảnh hưởng đến chúng ta tồn tại. Vấn đề xung quanh chương trình của Úc có. mục tiêu là vấn đề nội dung (lựa chọn dạy cái gì) và hình thức (cách tổ chức giờ.
dạy, lớp học). Quan niệm truyền thống đến đương đại của các nhà giáo dục Úc đều thống nhất chương trình giáo dục có tính chất địa phương, tính hệ thống và tính quốc gia” (Moore, 2007). Ở Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông được thay đổi rất nhiều lần. Đến tháng 9/1992 chương trình thứ 6 đã được ban hành.
Đến tháng 12/1997 chương. trình thứ 7. Chương trình 2007 xây dựng khung. Đến năm 2009, chương trình giáo.
dục cá nhân, chương trình thử nghiệm 2009, có 4 nội dung: (1) Định hướng cá nhân: 10 sự cân bằng, thể chất, kĩ năng tự chủ động; (2) Sáng tạo cá nhân: kĩ năng cơ bản, suy. nghĩ khác nhau về vấn đề, kĩ năng giải thích, kĩ năng quan sát và sing tao giá trị mới; (3) Trau dồi cá nhân: văn hóa văn học, hiểu về giá trị cuộc sống: (4) Cá nhân hướng. tới trí tuệ nhân loại: kĩ năng cộng đồng. Chương trình 2009 cho phép các trường tổ chức chương trình, cấu trúc giờ học riêng từ 20-35%.
Do đó các trường có thê kéo. «ai thêm chương trình bằng cách tăng giờ cho âm nhạc, nghệ thuật và giáo dục thể chất hoặc tăng giờ cho những HS kém. Họ cũng dành cho âm nhạc, nghệ thuật, dân tộc học 1 giờ/tuần. Phụ huynh và HS có thể chọn những môn học thiết kế, sử dụng.
thời gian tăng cường cho việc học hoặc tham gia các hoạt động động đồng phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân (Lee Keun Ho, 2014). Tác giả Kim Jin Sook, trong bài viết Sự liên hệ giữa sáng tạo và đổi mới: trường hợp chương trình Hàn Quốc đã mô tả sự thay đổi chương trình địa phương theo chương trình quốc gia 2009 (Kim Jin Sook, 2009) đã mô tả bằng mô hình vị trí của chương trình quốc gia, địa phương và chương trình quốc gia được quyết định và ban hành bởi Bộ Giáo dục. Chương trình giáo dục cấp độ địa phương thiết lập bởi người quản lí, giám sát của GDĐP. Năm 2009 ban hành chương trình quốc gia của Bộ giáo dục.
Tuy nhiên, điểm thay đổi quan trọng ở. chương trình địa phương: Mở rộng khuyến khích chương trình nhà trường. Cách thức tổ chức của Hàn Quốc như sau: Bộ giáo dục có 2 người phụ trách chương, trình địa phương. Mỗi Sở giáo dục tỉnh có khoảng 20 cố vấn cho trường trung, hoe, trong đó cố vấn cho chương trình nhà trường có 2 người, từ đó ở cấp phòng, cũng sẽ có nhân sự phụ trách như vậy tạo nên một hệ thống từ trên xuống chịu trách nhiệm giám sát chương tình địa phương và chương trình nhà trường.
Những sự thay đổi chương trình nhà trường còn đáp ứng nhiều chính sách của quốc gia. Thậm chí họ còn có giải thưởng trường học xuất “Excellent school, diserve curricula”. Trong đó chương trình địa phương tập trung vào các vấn đề: (1) Nhiều hoạt động hơn trong phạm vi chương trình và sau chương trình nhà trường " (2) Nhiều người tham dự hơn sau chương trình nhà trường. (3) Nhiều chương trình giáo dục nghệ nghiệp cho HS cấp 2 1.
Những nghiên cứu ở trong nước Nội dung GDĐP đã được ngành GD&ĐT ở Việt Nam quan tâm; đặc biệt 'GDĐP cho học sinh. Theo đó, từ năm 2007 dự án Phát triển giáo viên tiêu học - Bộ GD&ĐT đã tô chức biên soạn tài liệu #ướng đẩn giảng dạy Lịch sử địa phương và Địa lý địa phương (Bộ GD&ĐT, 2007); bên cạnh đó, từ năm 2008, Bộ GD&ĐT đã có công văn số 5982/BGDĐT-GD ngày 07 tháng 7 năm 2008 về việc Hướng dẫn nội dung chương trình Giáo dục địa phương ở các cấp học phổ thông từ năm học 2008-2009 (Bộ GD&ĐT, 2008). Căn cứ vào phân phối chương trình môn Lịch sử và Địa lý lớp 6, lớp 7 cấp THCS, một số tỉnh, địa phương đã tô chức chỉ đạo các đơn vị, cá nhân nghiên cứu biên soạn tài liệu GDDP cho hoe sinh như: Năm 2013, nhóm tác giả Ngô Minh Hùng, Nguyễn Hữu Du và Nguyễn Hữu Hào đã biên soạn “Tải liệu dạy - học Lịch sử địa phương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (sử dụng trong các trường tiểu học)” gồm các nội dung về lịch sử, địa lý, danh nhân, văn hóa của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nội dung tài liệu đã được ứng dụng thực hiện cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bước đầu đem đến tác dụng (Ngô Minh Hùng vd cs, 2013). Nam 2017, tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa đã biên soạn “Tài liệu lich sử địa phương Khánh Hòa cấp tiểu học theo hướng tích hợp” với 12 chuyên đề và 3 san phẩm chính gồm: tài liệu dạy học LSĐP theo hướng tích hợp dùng cho học sinh lớp.