Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ÂM NHẠC CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Theo nhà nghiên cứu Tâm lý học Fran Rauscher và Gordon Shaw thuộc Đại học California Irvine, Hoa Kỳ, có mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ âm nhạc với việc kiểm soát trình độ toán cao cấp. Tương tự như vậy với khả năng trong các lĩnh vực khoa học khi con bạn đã đi học.
Âm nhạc có khả năng tăng sự thông minh đặc biệt của trẻ đến 46% so với những đứa trẻ không được lớn lên cùng âm nhạc. Ở một số nước như Mỹ, Canada, Israel… đã có cả một đội ngũ các chuyên gia nghiên cứu về âm nhạc và tác động của âm nhạc cho trẻ, ngoài ra có khá nhiều công trình nghiên cứu về lí luận cũng như thực tiễn ghi nhận vai trò của âm nhạc đối với trẻ như: Sunbeam 1 - của Frances Balodis. Cuốn sách này là giáo trình độc quyền của tổ chức Music for young children (MYC) - Canada. MYC được thành lập vào năm 1980 tại Canada do Frances Balodis là một giáo viên âm nhạc, đồng thời cũng là một chuyên gia về trẻ em, sáng lập nhằm mục đích tạo môi trường dạy nhạc chất lượng cao cho trẻ.
Nhiều nghiên cứu khoa học tập trung khảo sát xem giáo dục âm nhạc tác động thế nào đến những lĩnh vực khác nhau của sự phát triển tri thức (khả năng nhận thức, trí nhớ, khả năng ngôn ngữ) của trẻ như: Theo khảo sát của Brenda HannaPladdy thì các bài học âm nhạc cho trẻ em làm cho trí tuệ của chúng sắc bén hơn khi lớn lên, học sinh piano có thể hiểu các khái niệm khoa học và toán học dễ dàng hơn. Trẻ em nếu được dạy piano cho thấy khả năng lí luận được tăng hơn 34% (theo tạp chí Nghiên cứu Thần kinh học, 1997), học sinh có học nhạc nhận nhiều phần thưởng, bảng danh dự, nhiều điểm A và B hơn hơn người không học nhạc (khảo sát của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, 1998)…Ngay từ những thập niên 80 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu trên nhiều nước cũng tiếp cận về phương pháp và vai trò dạy học âm nhạc cho trẻ mầm non: 5 N. Xô - khor [1] và ngày càng được áp dụng rộng rãi trong thực tế giảng dạy hiện nay. Gorki nhận xét: “Âm nhạc có tác động kì diệu đến tận đáy lòng, người lớn cần đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc cho trẻ càng sớm càng tốt”.
[12] Nhà chỉ huy dàn nhạc nổi tiếng Lôtôkôpxki viết: “Cả người lớn, cả trẻ em, thông thường khi nghe nhạc đều có ý muốn cử động theo nhịp tiết tấu. Tay họ đung đưa, chân gõ nhịp, đầu lắc lư. Đó là hình thức múa tự phát. Nhiều khi các em nhỏ vừa nghe nhạc, vừa tự ngẫu hứng điệu múa có tiết tấu độc đáo của mình” [12, tr.
Xukhômlinxki đã đánh giá rất cao hiệu quả giáo dục toàn diện của âm nhạc: “Chất lượng công việc giáo dục trong một nhà trường được xác định phần lớn bởi mức độ hoạt động âm nhạc trong hoạt động của nhà trường đó” [12; tr. Theo nhà nghiên cứu Tâm lý học Fran Rauscher và Gordon Shaw thuộc Đại học California Irvine, Hoa Kỳ, có mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ âm nhạc với việc kiểm soát trình độ toán cao cấp. Tương tự như vậy với khả năng trong các lĩnh vực khoa học khi con bạn đã đi học. Âm nhạc có khả năng tăng sự thông minh đặc biệt của trẻ đến 46% so với những đứa trẻ không được lớn lên cùng âm nhạc.
Nghe, vận động theo nhạc giúp trẻ tập phối hợp các động tác đi, chạy, nhảy chính xác, tác phong nhanh nhẹn. Vận động toàn thân khi có nhạc k m theo tạo cho trẻ sự mềm dẻo nhịp nhàng, có ảnh hưởng tốt đến tim mạch và sự phát triển cơ. Nếu nghe nhạc đúng mức và phù hợp sẽ làm thư giãn thần kinh, kích thích óc sáng tạo. Các nghiên cứu trong nước Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao sự nghiệp giáo dục “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng người, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và người đã nêu ra quan điểm giáo dục đó là: Giáo dục là bình đẳng cho mọi người, đặc biệt phải quan tâm đến giáo dục mầm non.
Tùy theo độ tuổi mà đưa ra mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp. Giáo dục toàn diện là phải giáo dục cho người học về tất cả các mặt. 6 Trước năm 1979, trong các lớp mẫu giáo ở nước ta, chương trình “Hát múa mẫu giáo” có nội dung rất đơn giản, chủ yếu là trẻ hát và múa minh họa một số bài để giải trí, gây hứng thú, hấp dẫn trẻ đến lớp mẫu giáo, vấn đề khó khăn ở đây là do gặp nhiều hạn chế về khả năng âm nhạc của giáo viên, về thiết bị vật chất và sự hạn chế về số lượng bài hát phù hợp cho trẻ mẫu giáo. Mãi đến năm 1979, Vụ giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục đã sưu tầm, tuyển chọn nhiều bài hát mẫu giáo để dạy các cháu vừa hát vừa minh họa động tác theo nhịp điệu của bài hát.
Từ đó phong trào ca hát đi vào nề nếp và phát triển, trong thời kì này đã có cuốn: “Kịch bản lễ hội ở trường Mầm non” cũng của tác giả Hoàng Văn Yến (1981) và cuốn: “Dạy múa ở trường mẫu giáo” thuộc Nhà xuất bản Giáo dục 1984. Hay cuốn: “Múa và phương pháp dạy trẻ vận động theo âm nhạc” của Trần Minh Trí - Nhà xuất bản Giáo dục -1999 Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết thể hiện sự đồng quan điểm với V. Vetlyghina (nhà tâm lý học) trong cuốn “Giáo dục mầm non - những vấn đề lý luận và thực tiễn” xem trọng giáo dục trẻ thông qua nghệ thuật. Theo tác giả thì nghệ thuật luôn là món ăn tinh thần bổ ích và lý thú, không thể thiếu được của trẻ thơ [31].
Tác giả Phạm Thị Hoà trong luận văn của mình đã nghiên cứu vấn đề: “Nghiên cứu âm nhạc với lứa tuổi mẫu giáo từ 3 - 6 tuổi”. Luận văn này tác giả đi sâu nghiên cứu âm nhạc trọng phạm vi rộng: Lứa tuổi mẫu giáo từ 3 - 6 tuổi. Đây là nghiên cứu cơ bản về các sáng tác cho trẻ mẫu giáo, tác giả phân tích nội dung tác phẩm âm nhạc dành cho trẻ em (dân ca, đồng dao, ca khúc mới…) [12]. Trong số các tác giả trong nước đã kể trên phải kể đến những đóng góp của Phạm Thị Hòa với nhiều công lao nghiên cứu, biên soạn nhiều công trình, giáo trình giáo dục âm nhạc nói chung và giáo dục âm nhạc ở MG có giá trị như: Giáo trình Phương pháp giáo dục âm nhạc trong trường mầm non (Hệ đào tạo từ xa - Đại học Huế 2007), Tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ mầm non theo hướng giáo dục tích hợp (Viện Nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non), Âm nhạc với thể dục sáng của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ 2006 - 2007), Hướng dẫn thiết kế bài soạn giáo dục âm nhạc cho giáo viên mầm non, Âm nhạc với sự phát triển nhân cách và đời sống trẻ mẫu giáo (Số 90 chuyên đề quý II/2004.
Tạp chí Giáo dục), Vai trò của âm nhạc trong các hoạt động 7 giáo dục và đời sống trẻ thơ ở trường mầm non (Số 93-8/2004, Tạp chí giáo dục), Vai trò giáo dục của âm nhạc trong thể dục sáng của trẻ ở trường mầm non 2005 (Tạp chí giáo dục), Về việc tuyển chọn các bài hát dạy trẻ theo các chủ đề giáo dục ở trường mầm non hiện nay (Số 160 - 4/2007. Tạp chí giáo dục)… Các tác giả nói trên đã làm sáng tỏ vai trò, sự cần thiết của giáo dục âm nhạc đối với trẻ nhỏ. Tuy nhiên các nghiên cứu đối với vấn đề dạy học môn âm nhạc cho trẻ mẫu giáo thì chưa nhiều. Trong đề tài này, tác giả kế thừa các đề tài trước và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn âm nhạc cho trẻ trong trường mầm non phù hợp với địa bàn khảo sát.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Có nhiều khái niệm khác nhau: Theo C. Mac “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [7; tr. 350], Mác viết: “bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn, đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… một nhạc sĩ thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [20; tr.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là “Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình” [6; tr.30] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới” [26; tr.32] Theo tác giả Nguyễn Khắc Chương: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [8; tr.21] 8 Theo tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ: “Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể và khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức”. 41] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung” [2, Tr.