Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở nhà trường phổ thông Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh là luôn quan tâm đến các em thiếu niên, nhi đồng. Bác dạy rằng muốn giáo dục thiếu niên nhi đồng có hiệu quả thì phải kết hợp tổ chức tốt đồng thời cả 3 môi trường giáo dục gia đình - nhà trường - xã hội.
Bác chỉ ra quan điểm giáo dục rất khoa học là học tập gắn liền với vui chơi, học tập, vui chơi gắn liền với lao động giúp đỡ cha mẹ, gia đình và cộng đồng “Học gắn liền với vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sự sinh hoạt của thiếu nhi trong vui chơi cũng có giáo dục, trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học. Vì vậy bên cạnh việc dạy chữ cần tổ chức cho các em vui chơi, vui chơi cũng là một hình thức giáo dục. Giáo dục thiếu nhi cần phải kết hợp cả ba yếu tố: đức dục, giáo dục, thể dục mà mục tiêu cao nhất là: cách dạy trẻ cần làm cho chúng biết yêu tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết giữ vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hoá” [32, tr.
Trong đề tài “Vai trò của Tổng phụ trách Đội trong công tác giáo dục thiếu niên nhi đồng” của tác giả Nguyễn Thị Thu Vân, Trường tiểu học thị trấn Giồng Trôm đề cập đến năng lực của Tổng phụ trách Đội trong công tác giáo dục các em học sinh bậc tiểu học thông qua các hoạt động cụ thể của trường như: tổ chức cho học sinh thi viết cảm nghĩ về Bác, về cuộc sống và môi trường xung quanh. 8 Tác giả Nguyễn Thị Hà đã nghiên cứu: “Vai trò của Tổng phụ trách Đội trong việc xây dựng các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường” đưa ra kết quả khảo sát vai trò của Tổng phụ trách Đội: Tổng số phụ trách Đội là 16 người, chuyên trách là 04 người và bán chuyên trách là 12 người, về chuyên môn 08 người giáo viên âm nhạc và 08 người giáo viên văn hóa. Có thể thấy rằng trong thị xã Bỉm Sơn có 16 trường tiểu học và THCS mà chỉ có 04 trường có giáo viên là Tổng phụ trách Đội chuyên trách mặc dù họ chưa qua đào tạo một lớp bồi dưỡng nào về nghiệp vụ công tác Đội. Qua đánh giá của nhóm tác giả cho biết Tổng phụ trách Đội nhưng không biết tổ chức hoạt động tập thể, không biết các bài trống, như vậy thì rất khó để đưa hoạt động của Đội phát triển.
Năm 2013, tác giả Ngô Giang Nam nghiên cứu công trình khoa học trình độ tiến sĩ khoa học giáo dục đề tài “Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc”, trường Đại học Thái Nguyên [33]. Trên cơ sở nghiên cứu lí lý luận giáo dục đồng thời tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học vùng núi phía Bắc kết hợp với việc nghiên cứu thực trạng những khó khăn trong việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Tác giả đã đề ra 5 giải pháp cấp thiết góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học vùng núi phía Bắc hiện nay. Những biện pháp này có tình độc đáo và khoa học cao Tác giả Võ Huỳnh Ngọc Vân với đề tài “Một số biện pháp phối hợp giữa hiệu trưởng và tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tỉnh Bình Dương”.
Trong đề tài này tác giả đã đề xuất các biện pháp phối hợp giữa Hiệu trưởng và tổ chức Đội trong Nhà trường phổ thông trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở tỉnh Bình Dương [44]. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở nhà trường phổ thông Về vấn đề này, đã có một số tác giả trong nước nghiên cứu chuyên sâu 9 ở mức độ đề tài nghiên cứu khoa học của các trường đại học, học viện giáo dục trong những năm gần đây: Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh nghiên cứu trình độ thạc sĩ đề tài khoa học “Quản lí công tác giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tại trường tiểu học Lý Thường Kiệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”; trường Đại học Giáo dục, năm 2012 [1]. Trong luận văn tác giả cũng đã đề cao việc củng cố, vừa phát triển quan hệ giao tiếp giữa các lớp trong trường và với cộng đồng XH, góp phần giáo dục tinh thần hợp tác vì mục tiêu chung. Qua đây, tác giả đề xuất 6 biện pháp được đánh giá là cần thiết và có tính khả thi cao trong công tác QLGD của các nhà trường.
Năm 2017, Tác giả Trần Xuân Huy, đã nghiên cứu luận văn thạc sĩ với đề tài: “Quản lý phát triển kĩ năng cho HS thông qua hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh tại các trường THCS huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang” [23]. Qua phân tích cơ sở lý luận trong Luận văn và tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh tại các trường tiểu học ở địa phương, tác giả đã đề xuất 6 biện pháp nhằm phát triển kĩ năng cho HS thông qua hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh của các trường THCS tại Hiệp Hòa, Bắc Giang. Năm 2017, tác giả Trần Hà Trang nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học huyện Thường Tín-thành phố Hà Nội”, trường Đại học Giáo dục [41]. Năm 2018, Nguyễn Quang Huy với với luận văn Thạc sĩ “Quản lí tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh ở các trường THCS huyện Yên Lập, Phú Thọ” [24].
Trong đề tài tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức của Đội TNTP Hồ Chí Minh ở trường THCS trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ hiện nay, để từ đó đề xuất biện pháp quản lý tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh tại các trường THCS trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ Năm 2019, tác giả Lê Văn Quynh nghiên cứu trình độ thạc sĩ đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh các trường trung học sơ sở huyện Yên Phong- tỉnh Bắc Ninh”, trường Học viện quản lý giáo dục [38]. 10 Từ việc khái quát các nghiên cứu trên cho thấy vấn đề vai trò của hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh ở trường THCS, quản lý hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh ở trường THCS được một số nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh ở trường THCS quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh. Trên cơ sở tiếp thu nghiên cứu về mặt lý luận làm cơ sở cho thực tiễn và từ đó đưa ra biện pháp “Quản lý hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở các trường trung học cơ sở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh” 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lí nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm đã có từ lâu, nó được thể hiện với nhiều hình thức diễn đạt khác nhau của các nhà khoa học và ngày càng được hoàn thiện. Quản lý trở thành một môn khoa học độc lập từ sau khi có cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu vào thế kỷ XVIII, XIX.W Taylor (1911) cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.[39] Nhưng theo H.
Từ những vấn đề lý luận nêu trên về quản lý, chúng tôi lựa chọn khái niệm sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý nhà trường Nhà trường là một cơ sở giáo dục, là nơi tổ chức quá trình dạy học, giáo dục, đào tạo con người theo yêu cầu xã hội. Trong nhà trường, diễn ra các hoạt động giáo dục toàn diện và quá trình quản lí giáo dục, trong đó hoạt động dạy học và quản lí dạy học là trung tâm. Xét trong quan hệ với cả hệ thống giáo dục, nhà trường được xem xét như một tế bào căn bản, là đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, là tấm gương phản chiếu bộ mặt của một nền giáo dục.
Mục tiêu giáo dục, tính chất đại chúng, dân chủ của nhà trường, quy mô trường lớp, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. trong nhà trường phản ánh trình độ phát triển, tính chất tiến bộ của nền giáo dục của một quốc gia. Xét trong quan hệ với cộng đồng, địa bàn dân cư và vùng lãnh thổ, nhà trường được coi là vầng trán của cộng đồng, là trung tâm tri thức, trí tuệ của cộng đồng, của địa phương. Theo nghĩa này, “nhà trường là nơi chuyển giao, phát triển và sáng tạo tri thức, không chỉ cho các thế hệ người học học tập trong nhà trường mà cho cả cộng đồng xã hội” [22, tr.
Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra một vài khái niệm về quản lí nhà trường như sau: “Việc quản lí nhà trường phổ thông là quản lí việc dạy - học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [21, tr. “Quản lí nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy- học, có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN, mới quản lí được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [22, tr. Theo tác giả Trần Kiểm, thuật ngữ “Quản lí trường học/ nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa của QLGD thuộc tầm vi mô.