đặt vấn đề về việc “Thử đi tìm những phƣơng pháp dạy học hiệu quả” [33]. Tác giả Bùi Hiền nghiên cứu về phƣơng pháp hiện đại dạy-học ngoại ngữ [24]. Tác giả Mai Quốc Liên cũng có ý kiến: "Cần cấp bách có một chiến lƣợc ngoại ngữ để phủ khắp tiếng Anh trong các trƣờng học toàn quốc” [31]. Một số luận văn cao học cũng đã nghiên cứu về quản lý và đổi mới quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học bộ môn này ở các trƣờng THPT, THCS.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu nhƣ: Bùi Thị Thanh Huyền (2015) với luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trƣờng THCS Thành Phố Uông Bí Tỉnh Quảng Ninh”, Đại Học Thái Nguyên, Trƣờng Đại Học Sƣ Phạm. Trong nghiên cứu này tác giả đã đề xuất bảy nhóm giải pháp nhằm quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trƣờng THCS Thành Phố Uông Bí Tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Giáo dục nâng cao nhận thức cho GV, HS và cha mẹ HS về tầm quan trọng của Tiếng Anh; Chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên phát triển chƣơng trình 11 dạy học môn Tiếng Anh theo hƣớng tăng cƣờng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; Chỉ đạo tổ chuyên môn hƣớng dẫn giáo viên đổi mới phƣơng pháp dạy học môn Tiếng Anh theo hƣớng tích cực hóa hoạt động của học sinh; Chỉ đạo tổ chuyên môn hƣớng dẫn giáo viên tổ chức hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Anh để rèn kĩ năng cơ bản cho học sinh; Nâng cao năng lực cho GV Tiếng Anh; Tăng cƣờng kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Anh; Phát triển môi trƣờng dạy học Tiếng Anh [27]. Trần Thị Hằng (2015) với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trƣờng trung học phổ thông Nam Phù Cừ Tỉnh Hƣng Yên”, Đại học quốc gia Hà Nội, Trƣờng Đại Học Giáo Dục. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trƣờng THPT Nam Phù Cừ, tỉnh Hƣng Yên bao gồm: Nâng cao nhận thức của GV, HS và cha mẹ HS về tầm quan trọng của Tiếng Anh; Quản lý hoạt động dạy môn Tiếng Anh của GV; Quản lý hoạt động học môn Tiếng Anh của HS; Bồi dƣỡng giáo viên Tiếng Anh; Quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Anh; Quản lý CSVC, thiết bị dạy học môn Tiếng Anh [23].
Vƣơng Văn Cho (2014) với nghiên cứu “Thực trạng quản lý đổi mới hoạt động giảng dạy Tiếng Anh ở một số trƣờng trung học cơ sở công lập quận 6 Thành Phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM số 59. Nghiên cứu trình bày một số kết quả khảo sát thực trạng quản lí (QL) đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở một số trƣờng trung học cơ sở (THCS) công lập ở Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) gồm thực trạng thực hiện nội dung QL đổi mới giảng dạy tiếng Anh và thực trạng QL đổi mới phƣơng pháp giảng dạy tiếng Anh; từ đó, đề xuất các biện pháp QL nhằm đổi mới hoạt động giảng dạy tiếng Anh ở trƣờng THCS [12]. Nói tóm lại, các tác giả Việt Nam cũng nhƣ nƣớc ngoài nghiên cứu và đƣa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy cũng nhƣ quản lý việc đổi mới PPGD ở nhà trƣờng trong đó có bộ môn tiếng Anh theo hƣớng “lấy ngƣời học làm trung tâm” nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của ngƣời học, trong đó tập trung vào việc giải quyết các mục tiêu, nội dung, chức năng và các biện pháp 12 quản lý hoạt động giảng dạy trong nhà trƣờng phổ thông và ở bộ môn tiếng Anh. Điều này cho thấy quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý việc đổi mới PPGD môn tiếng Anh nói riêng ở các trƣờng THCS thực sự là vấn đề quan trọng đã đƣợc quan tâm nghiên cứu và cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quản lý, quản lý nhà trường 1. Khái niệm “Quản lý” Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con ngƣời xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Hoạt động quản lý (QL) xuất hiện khi loài ngƣời hình thành hoạt động nhóm.
Qua lao động, để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con ngƣời. Hoạt động QL là một hiện tƣợng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. Có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý đã nêu lên các khía cạnh khác nhau của khái niệm “quản lý”. Theo Harold Koontz thì quản lý là một “hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22]. Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì : “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [45] Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [29] - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những ngƣời cộng sự khác nhau cùng chung tổ chức. - Quản lý là những tác động có mục đích đến tập thể ngƣời, thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến. 13 “QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [50].
Tóm lại, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và đƣợc hiểu dƣới những góc độ, quan điểm khác nhau. Nhƣng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hƣớng, mang tính hệ thống, đƣợc thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tƣợng QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra. QL là sự điều khiển có tổ chức và thoả mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị; Nhƣng tuỳ theo những trƣờng hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp QL cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển. Khái niệm “Quản lý nhà trường” Trong hệ thống giáo dục (GD), nhà trƣờng chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu.
Đa phần các hoạt động GD đều đƣợc thực hiện trong nhà trƣờng, thông qua hệ thống nhà trƣờng (phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học). Nhà trƣờng là “tế bào chủ chốt” của hệ thống GD từ trung ƣơng đến cơ sở. Theo đó quan niệm quản lý giáo dục (QLGD) luôn đi kèm với quan niệm QL nhà trƣờng; Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QL nhà trƣờng. Quản lý nhà trƣờng có thể đƣợc coi nhƣ là sự cụ thể hoá công tác QLGD.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng (the principal) đến con người (giáo viên, nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.) nhằm đạt mục tiêu giáo dục” [32]. Ngày nay nhà trƣờng trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết kế sƣ phạm đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trƣờng có mục tiêu cao nhất là 14 hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con ngƣời (Human Capital), vốn tổ chức (Organizational Capital) và cả vốn xã hội (Social Capital). Theo Nguyễn Ngọc Quang (1989), quản lý nhà trƣờng là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp.) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.
Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [38]. Theo giáo sƣ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục. Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [20]. Quản lý nhà trƣờng là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục.
Quản lý nhà trƣờng khác với quản lý xã hội khác, nó đƣợc quy định với bản chất lao động sƣ phạm của ngƣời giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trƣờng vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tƣợng quản lý. Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trƣờng là nhân cách ngƣời học sinh đƣợc hình thành trong quá trình học tập, tu dƣỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội. Nhƣ vậy, quản lý nhà trƣờng chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trƣờng. Do đó quản lý nhà trƣờng là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trƣờng theo mục tiêu đào tạo.