CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC HỆ TRUNG CẤP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học hệ Trung cấp Để công tác hướng nghiệp, phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THCS vào học trung cấp có hiệu quả, Bộ LĐ-TB&XH đã ban hành công văn số 1841/ LĐTBXH- TCGDNN ngày 14 tháng 5 năm 2018, chỉ đạo tăng cường tuyển sinh, bên cạnh đó trình độ trung cấp với HS tốt nghiệp THCS cần phải được nâng cao chất lượng đào tạo. Bộ LĐ-TB&XH đề nghị các trường trung cấp, trường cao đẳng tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn tuyển sinh cho đối tượng HS THCS và phụ huynh về lựa chọn học trung cấp ngay sau khi tốt nghiệp THCS. Hơn nữa, cần đổi mới chương trình đào tạo trình độ trung cấp theo hướng kết hợp đào tạo nghề và học bổ sung kiến thức văn hóa THPT theo quy định, đảm bảo người học khi tốt nghiệp trình độ trung cấp có đủ năng lực tham gia vào thị trường lao động hoặc có thể tiếp tục học liên thông lên trình độ cao hơn.
Việc phân luồng theo Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025” theo quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ được đẩy mạnh, cũng như tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho người học. Chương trình khung TCCN đã quy định rõ về kiến thức và kỹ năng của chương trình đào tạo theo thông tư số 16/2010/TT-BGDĐT của Bộ GD &ĐT ngày 28 tháng 6 năm 2010. Đối với hệ tuyển sinh HS tốt nghiệp THCS, chương trình đào tạo sẽ bao 9 gồm các học phần văn hóa phổ thông được thiết kế trong chương trình khung TCCN với các môn: Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý. Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học cấp Trung học phổ thông được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu rõ mục tiêu của môn Hoá học THPT là cung cấp cho HS hệ thống kiến thức hóa học THPT cơ bản, tương đối hiện đại và thiết thực từ đơn giản đến phức tạp.
Kiến thức cơ sở Hóa học chung, hóa học vô cơ và hóa học hữu cơ sẽ được trang bị cho người học; hệ thống kỹ năng hóa học THPT cơ bản và thói quen làm việc khoa học gồm kỹ năng học tập hóa học, kỹ năng thực hành hóa học và kỹ năng vận dụng kiến thức hóa học cũng sẽ được GV hướng dẫn cho HS. Cùng với kiến thức và kỹ năng, HS cũng cần có thái độ tích cực, hứng thú học tập môn Hóa học, phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học, có ý thức trách nhiệm với bản thân, xã hội và cộng đồng, đem những tri thức hóa học đã học vận dụng vào cuộc sống, vận động người khác cùng thực hiện. Trần Khánh Đức (2019) đã nghiên cứu về hệ thống GDNN của một số quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ. Các tác giả đã có những phân tích về khung chương trình quốc gia, chương trình đào tạo của các chương trình GDNN ở các nước, trong đó có chương trình đào tạo cao đẳng công nghệ 5 năm ở Nhật Bản gồm các môn học thuộc phần Giáo dục đại cương như Toán, Vật Lý, Hóa học, Lịch sử, Sinh học, Văn học, Địa lý và các môn học thuộc phần Giáo dục nghề 10 nghiệp.
Có thể thấy rằng, chương trình này có điểm tương đồng với chương trình khung TCCN cho HS tốt nghiệp THCS ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu của Võ Thị Tình (2019) đã tìm hiểu về thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy trong các trường TCCN ngoài công lập TPHCM, từ đó đánh giá được những điểm mạnh và những điểm yếu về thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại trường, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cải thiện công tác quản lý hoạt động giảng dạy tại các trường TCCN ngoài công lập TPHCM. Đề tài “Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học các môn văn hóa phổ thông ở trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa” của tác giả Trịnh Thị Phượng (2016) đã cho rằng cần xây dựng bài giảng các môn văn hóa phổ thông theo hướng phát triển năng lực và có sự gắn kết giữa các môn chuyên ngành với văn hóa phổ thông để định hướng đổi mới hoạt động dạy học các môn văn hóa phổ thông tại cơ sở đào tạo. Các công trình nêu trên chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động giảng dạy tại các trường TCCN, hoạt động giảng dạy các môn văn hóa phổ thông tại trường cao đẳng nghề, hầu hết các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học hệ Trung cấp còn rất hạn chế về số lượng.
Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học tập trung chủ yếu ở bậc THPT như nghiên cứu của Trần Thị Thu (2014) về “Quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học ở các trường THPT Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”. Thực trạng của công tác quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học tại một số trường THPT ở Thành phố Cẩm Phả đã được tác giả đánh giá với quan điểm của một GV, từ 11 đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học. Công trình nghiên cứu của Vũ Thị Lan (2020) tại trường THPT Vân Tảo, huyện Thường Tín, TP Hà Nội đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học theo định hướng phát triển năng lực HS để sử dụng làm cơ sở đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học theo định hướng phát triển năng lực HS tại trường. Các đề tài trên nghiên cứu và đánh giá về thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học ở bậc THPT, từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế với bậc học để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả dựa vào cơ sở lý luận của các nghiên cứu đi trước, đánh giá thực trạng quản lý đối với hoạt động dạy học môn Hóa học hệ Trung cấp tại trường Cao đẳng Công nghệ cao Đồng An, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần thực hiện nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động dạy học môn Hóa học hệ Trung cấp tại trường.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hoạt động dạy học Dạy học theo quan niệm truyền thống chính là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền lại và bảo tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác, cách dạy học này sẽ lấy hoạt động của người thầy là trung tâm. Theo lối dạy học lâu đời này, HS là những người nghe, nhớ, ghi chép dưới sự thuyết trình, diễn giảng của GV. Phương pháp dạy học này làm HS thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức 12 thiên về lý luận mà thiếu đi sự gắn liền với thực tiễn, từ đó HS không có sự chủ động, sáng tạo.
Lý do và cũng là nhược điểm của phương pháp này chính là GV luôn đóng trò chủ thể, là tâm điểm, trong khi HS chỉ là khách thể, là quỹ đạo trong một hoạt động dạy học không mang tính tương tác và phản biện. Một công trình nghiên cứu của John Dewey (1997) cho rằng Những lý tưởng truyền thống về văn hóa, các môn học truyền thống, các phương pháp dạy và kỷ luật truyền thống đòi hỏi phải có những sự thay đổi, sao cho những ảnh hưởng giáo dục có thể tác động tới mọi trẻ em cho tới khi chúng đủ khả năng trở thành người làm chủ sự nghiệp kinh tế và xã hội của mình. Bước sang thế kỉ XXI, tốc độ phát triển của khoa học và công nghệ thay đổi theo từng giây, nhiệm vụ đổi mới phương pháp giáo dục không những là vô cùng cần thiết mà còn mang tính bắt buộc. Bắt buộc phải đổi mới và hiện đại hóa các phương pháp giáo dục mang tính truyền thống, cứng nhắc.
Người dạy thay vì truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi, thì từ nay cần trang bị cho người học phương pháp để có thể tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có thể đưa ra tư duy phân tích, tổng hợp. Người thầy hướng dẫn người học tính chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; thúc đẩy tính tự giác, chủ động, trong quá trình học tập. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về dạy học đã chuyển biến không chỉ trong nhận thức mà còn ở cách thức thực hiện. 13 “Dạy học là một quá trình, một sự nỗ lực để giúp đỡ hay có thể tạo ra được sự phát triển ở người học.
Có thể nói rằng, sự phát triển được nhắc đến ở đây là về kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học. Do đó, người dạy chỉ đóng vai trò khơi gợi, hướng dẫn, để người học tự phát triển năng lực cá nhân. “Dạy là một quá trình chỉ đạo và hướng dẫn quá trình học để người học đạt được những kiến thức, kỹ năng hay thái độ mới; tăng cường lòng nhiệt tình của họ và phát triển hơn nữa các kỹ năng hiện có. Tác giả Phạm Viết Vượng (2000) nhận xét Dạy học là một bộ phận trong một quá trình sư phạm tổng thể, để thực hiện mục đích giáo dục bắt buộc phải đi qua con đường dạy học.
Các phương pháp sư phạm đặc biệt được tổ chức trong quá trình dạy học tại nhà trường là để trang bị cho HS hệ thống kiến thức về khoa học và những kỹ năng để có thể vận dụng các kiến thức này vào thực tiễn. Nguyễn Văn Hộ (2002a) thì cho rằng Hoạt động dạy học là hoạt động chung bao gồm hai hoạt động thành phần chính là hoạt động dạy và hoạt động học, mà tương ứng với chúng là hai chủ thể: thầy – trò. Sự tồn tại của quá trình dạy học là hai hoạt động quy định lẫn nhau với hai chủ thể tương tác qua lại. Theo Trần Thị Hương (2017) “hoạt động dạy học là hệ thống gồm nhiều hành động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh”.