Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Đào tạo đại học cho người đang đi làm được các nước trên thế giới, trong khu vực tổ chức đa dạng,linh hoạt theo nhiều cách khác nhau, phù hợp với phong tục tập quán mỗi nước.
Đồng thời, quá trình đào tạo cũng được quản lý theo nhiều quy trình riêng phù hợp với đặc thù, cũng như điều kiện và hoàn cảnh cụ thể ở mỗi nước. Năm 1949, tại Elsinor (Đan Mạch), Hội nghị thế giới về giáo dục người lớn được triệu tập. Hội nghị đã nêu lên khẩu hiệu “Vì sự công bằng xã hội” về giáo dục với người lớn và nói đến tầm quan trọng của việc tạo cơ hội giáo dục lần thứ hai cho những người thất học do chiến tranh. Nội dung giáo dục hướng đến việc bảo vệ hoà bình, lòng khoan dung, tinh thần dân chủ… Năm 1960, Hội nghị thế giới về giáo dục người lớn lần thứ hai họp tại Montreal (Canada), điểm lại tình hình từ Hội nghị lần thứ nhất và nêu khẩu hiệu “Giáo dục người lớn trong thế giới đang đổi thay” nhấn mạnh vai trò của giáo dục người lớn trong điều kiện cách mạng KH&CN phát triển mạnh mẽ.
Giáo dục CQ trong nhà trường không còn chiếm địa vị độc tôn, mà phải chia sẻ trách nhiệm cho giáo dục KCQ trong việc tạo cơ hội giáo dục cho những người đang cần cập nhật kiến thức trước sự “bùng nổ thông tin”. Hội nghị khẳng định giáo dục người lớn là một bộ phận trong hệ thống giáo dục của các quốc gia. Do khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão nên nhà trường không thể cung cấp đầy đủ cho người học những tri thức mới của nhân loại và càng không giữ được vai trò độc tôn trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Coombs báo động cuộc khủng hoảng giáo dục thế giới và hệ thống giáo dục không chính quy (KCQ) như một gợi ý để thoát khỏi cuộc khủng hoảng đó.
Từ đó, Giáo dục Thường 7 xuyên (GDTX) hoặc Giáo dục KCQ /Giáo dục người lớn được thừa nhận trong hệ thống giáo dục của các nước. Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp Quốc (UNESCO) cũng đã cung cấp cái nhìn khái quát về quá trình thực hiện các chương trình GDTX; những bài học kinh nghiệm cơ bản trong việc thực hiện GDTX ở một số quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; nhấn mạnh lồng ghép giới, sự tham gia của cộng đồng, cải cách các phương pháp tiếp cận trong giáo dục. Đặc biệt, cần ưu tiên việc tiếp cận các nhóm thiệt thòi và yếu thế: phụ nữ và trẻ em gái, người nghèo, người dân tộc thiểu số và người khuyết tật. Đến tháng 7/1997, Hội nghị quốc tế lần thứ V về giáo dục người lớn được tổ chức tại Hamburg – Đức với khẩu hiệu: “Giáo dục người lớn - chìa khoá bước vào thế kỷ XXI” đã đưa ra bản tuyên bố chung về xu hướng phát triển giáo dục người lớn của thế giới.
Trong đó có khẳng định: Giáo dục người lớn là bộ phận không thể thiếu được của bất kỳ hệ thống giáo dục nào. Chính sách học tập của người lớn nên phù hợp với văn hóa địa phương và ưu tiên mở rộng cơ hội học tập cho mọi phụ nữ. UNESCO đã phân tích xu hướng, nhận diện các thách thức cơ bản và những cách thực hiện tốt nhất, cũng như đề xuất hoạt động để cải thiện một cách đáng kể kiến thức về giáo dục và học tập của người lớn. Các nghiên cứu của UNESCO đã truyền tải nhiều thông điệp về giáo dục, đó là: “Nền giáo dục của xã hội học tập, học tập suốt đời”.
Nguyên lý “Giáo dục cho mọi người – mọi người cho giáo dục” cũng như nguyên lý “Học suốt đời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho giáo dục ở nhiều nước trên thế giới trong đó có nước ta, theo 04 tiêu chí giáo dục được UNESCO khuyến cáo: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người”. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đề cập ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau về lí luận và thực tiễn của GDTX – giáo dục người lớn, xem đó là giải pháp duy nhất để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trong giáo dục về những đặc điểm học tập của người lớn; các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giáo dục người lớn; về việc xây dựng một xã hội học tập với một hệ thống giáo dục mang tính mở, 8 mềm dẻo, linh hoạt, đa dạng, tạo thuận lợi cho người học cần gì học nấy, học suốt đời. Đặc biệt, cần cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Đó là cũng là nội dung mà nhà nước ta đã sớm nghiên cứu, tiếp thu và phát triển hình thức đào tạo Tại chức (nay gọi là VLVH) trong những năm đầu phát triển đất nước.
Các nghiên cứu trong nước Đào tạo đại học tại chức trước đây và nay được gọi là đào tạo ĐH VLVH hình thành khá sớm ở nước ta và trải qua một thời gian dài phát triển, được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu đến với nhiều góc độ khác nhau như: vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nó trong hệ thống giáo dục quốc dân, các phương thức tổ chức dạy và học, các biện pháp phát triển đào tạo, những đóng góp của đào tạo VLVH đối với KT-XH, những hạn chế trong công tác liên kết đào tạo…được thể hiện qua nhiều công trình, bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục đào tạo trong cả nước. Đào tạo đại học tại chức hay VLVH là một bộ phận của đào tạo ĐH KCQ. Trong đề tài “Những kiến nghị về hệ không chính quy trong giáo dục đại học” [31], tháng 6/1988, tác giả Phan Hữu Tiết cho rằng hệ KCQ trong giáo dục đại học dù có lớn về số lượng, có đầy đủ các yếu tố đảm bảo chất lượng và có một vị trí quan trọng như thế nào đi chăng nữa thì nó cũng chỉ đóng vai trò là một bộ điều chỉnh của hệ thống giáo dục đại học. Việc điều chỉnh như thế nào phụ thuộc vào tình hình phát triển KT-XH của từng giai đoạn cụ thể.
Đề tài này còn phân tích, so sánh sự khác biệt cơ bản giữa hệ CQ và KCQ, đề cập đến công tác quản lý quá trình đào tạo hệ KCQ, đưa ra một số kiến nghị giúp các cơ sở GDDH mở rộng đào tạo KCQ vào thời điểm hiện tại. Ngoài ra, trong giai đoạn năm 1990 đến năm 2005, còn có nhiều tác giả nghiên cứu sâu về GDTX như nhóm tác giả Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Hùng Sinh, Nguyễn Như Kim, Hoàng Minh Luật, Lê Văn Tiến, Nguyễn Văn Vinh, Trương Đình Sồ, Hoàng Minh Quang, Nguyễn Hồng Đàm trong Đề án I-93-25 (5/1994) “Xây dựng hệ thống giáo dục thường xuyên” [37] cho rằng, đào tạo ĐH VLVH là đào tạo không tập trung (phân loại theo phương thức học), dành cho người lớn đang 9 hoạt động nghề nghiệp (phân loại theo đối tượng học) dẫn tới cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân (phân loại theo văn bằng). Tác giả Nguyễn Tiến Đạt trong nghiên cứu “Về đào tạo đại học theo phương thức không tập trung” đưa ra cách tổ chức kiểm tra, đánh giá đào tạo tại chức đạt chất lượng của đào tạo đại học CQ, mối quan hệ giữa đào tạo đại học tại chức với đào tạo đại học từ xa. Tác giả Nguyễn Đình Sồ với nghiên cứu “Thống kê, phân tích, đánh giá và kiến nghị loại hình đào tạo ĐH Tại chức của trường ĐH Kinh tế quốc dân”.
Luật Giáo dục (GD) năm 2005 đã ghi rõ: “Các chương trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ”; “đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cập nhật kiến thức, kỹ năng”; “các chương trình để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức VLVH” [29]. Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề chất lượng đào tạo bậc cao đẳng, đại học, có nhiều bài báo viết về vấn đề này. Tác giả Phạm Phương Tâm có bài viết: “Mở rộng liên kết, đa dạng loại hình đào tạo KCQ đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội” đã nêu sự cấp thiết của việc đào tạo hệ VLVH và đề cập đến vấn đề đổi mới, tổ chức đào tạo hiệu quả. Trong luận án của tác giả Vũ Duy Hiền, có đoạn: “Đào tạo ĐH VLVH là tiền đề cần thiết giúp đổi mới triết lý học một lần trong đời sang triết lý học thường xuyên, học suốt đời trong xã hội học tập, giúp người lao động có cơ hội học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạt văn bằng phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của công việc đang làm, chuyển đổi nghề nghiệp khi cần thiết trong xã hội luôn biến động và phát triển không ngừng hiện nay” đã nêu bật được sự cần thiết của đào tạo VLVH đối với xu thế đại chúng hóa giáo dục hiện nay.[20] Qua các nghiên cứu trên cho thấy, trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển, đào tạo VLVH đã có nhiều thay đổi về tên gọi, phương thức tổ chức cho đến đối tượng được đào tạo.
Vì vậy, quản lý đào tạo VLVH ngày càng có nhiều những sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của từng cơ sở giáo dục, của từng vùng hay trên địa bàn cả nước. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả tập 10 trung nghiên cứu về nội dung quản lý đào tạo hình thức VLVH của Trường ĐHCT tại trường và các cơ sở liên kết đào tạo của trường trong vùng ĐBSCL. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng đã được hình thành, quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại.
Tuỳ cách tiếp cận, mục đích mà khái niệm quản lý được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát triển”.