Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN MAM NON THEO CHUAN NGHÈ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đào tạo. Đặc biệt trong quá trình đôi mới giáo dục hiện nay thì hơn bao giờ hết vai trò, trách nhiệm thuộc về nhà giáo. Việc ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên giúp từng giáo viên, cơ sở giáo dục tự đánh giá, đánh giá pham chat và năng lực của giáo viên dé từ đó có kế hoạch rèn luyện, bồi dưỡng, phát triển cho bản thân cũng như đơn vị mình.
Bên cạnh đó, việc ban hành chuẩn nghề nghiệp còn làm căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và thực hiện chế độ chính sách dé phát triển và sử dụng đội ngũ; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng xây dựng, phát triển chương trình và triển khai đảo tạo bồi dưỡng giáo viên đáp ứng tình hình mới. Đề đạt được mục tiêu của Chuẩn nghề nghiệp đưa ra, công tác tự đánh giá của giáo viên, giáo viên đánh giá đồng nghiệp cùng chuyên môn, hiệu trưởng đánh giá giáo viên phải sát đúng với phẩm chat và năng lực của từng giáo viên, chỉ ra được ưu điểm, hạn chế, những kết quả hoạt động từng năm học thông qua hệ thống minh chức đúng, phù hợp với từng mức độ. Dé việc đánh giá theo Chuẩn nghề nghiệp có hiệu quả, vai trò quản lý đánh giá hoạt động đó của người quản lý hết sức quan trọng. Từ những kết quả thu được, người quản lý xây dựng kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động tự bồi dưỡng, rèn luyện của giáo viên cũng như có những biện pháp đào tạo, phát triển giáo viên của cơ sở giáo dục.
Những nghiên cứu trên thé giới Trên thế giới, giáo dục nhiều nước đã xuất hiện cải cách dựa trên các chuân (reform based on standards) cho giáo dục của nước mình: Chuân chât lượng giáo dục, Chuẩn nhà trường, Chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, Chuẩn giáo viên. Trong bộ chuẩn cho giáo viên có Chuan trình độ dao tạo, Chuẩn chức danh, Chuan nghề nghiệp (professional standard).Trong Chuẩn nghề nghiệp, một số nước đã tiến đến xây dựng Chuẩn nghề nghiệp cho GV từng ngành học, cấp học, môn học. Ở Mỹ: Tiên phong trong xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phố thông là nước Mỹ. Uy ban quốc gia chuẩn nghé day học (National Board for Professional Teacher Standards - NBPTS) - được thành lập năm 1987 - da đề xuất 5 điểm cốt lõi dé các bang vận dụng: () Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học của họ (Teachers are Committed to Students and Their Learning).
Dựa vào 5 dé xuất cốt lõi đó, mỗi bang đã xây dựng Chuan nghé nghiệp giáo viên phô thông của bang minh. Ở Đức: Theo Nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá Giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo giáo viên là những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng. Theo đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của người giáo viên là: (i) Giáo viên là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tô chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học.
(ii) Giáo viên phải ý thức được rằng nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường. (iii) Giáo viên thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm. Muốn vậy họ phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chân đoán. (iv) Giáo viên liên tục phát triển các năng lực nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong hoạt động nghề nghiệp.
Giáo viên tham gia xây dựng một nền văn hoá học đường khuyến khích học tập. Ở Anh: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên của Anh (2007) được cấu trúc gồm 3 phần (lĩnh vực) có liên quan lẫn nhau, đó là: (i) Những đặc trưng nghề nghiệp (ii) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp (11) Các kĩ năng nghề nghiệp. Các tiêu chuẩn này chung cho tất cả các loại giáo viên. Mỗi tiêu chuẩn có các yêu cầu.
Đối với mỗi loại giáo viên có những yêu cầu khác nhau (cả về số lượng và mức độ). Chuan nghề nghiệp giáo viên được xác định cụ thé cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên: - Giáo viên mới vào nghề (Q): (33 yêu cầu) - Dành cho tất cả giáo viên (C): (41 yêu cầu) - Giáo viên trong thang bậc trả lương cao (P): (10 yêu cầu) - Giáo viên giỏi (E): (15 yêu cầu) - Giáo viên có kĩ năng cấp cao (chuyên gia) (A): (3 yêu cầu) Ở Úc: Khối Australia xây dựng Khung quốc gia về Chuẩn nghề nghiệp dạy học (The National Framework for Professional Standards for Teaching) Trên cơ sở đó, các bang xây dựng Chuẩn nghề nghiệp riêng của minh. Khung quốc gia có 4 lĩnh vực: (i) Kiến thức nghề nghiệp (Professional Knowledge); (ii) Thực hành nghề nghiệp (Professional Practice); (iv) Giá tri nghé nghiép (Professional Values); (iv) Quan hé nghé nghiép (Professional Relationships). Đối với các bang, không nhất thiết xây dựng cả 4 lĩnh vực, chỉ hai lĩnh vực | và 2 là giống nhau, các lĩnh vực 3 và 4 không giống nhau.
Ví dụ: - Ở Western Australia: Lĩnh vực 3 (không có lĩnh vực 4) và lấy tên là Engagement (tạm dich là: Sự cam kết) - Ở New South Wales: cũng chỉ có 3 lĩnh vực, lĩnh vực 3 là Commitment (tạm dịch là: Sự tận tuy). - Ở Queensland thì hoàn toàn không theo cấu trúc này và Chuẩn (Professional Standards for Queensland Teachers) có 10 tiêu chuẩn thể hiện các năng lực cần có của nghề dạy học. Những nghiên cứu trong nước Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, chang han: Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg [24] về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân. Thủ tướng chính phủ ra Quyết định phê duyệt đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 với nội dung: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, dam bao du vé số luong, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, lỗi sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc day mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dat nước” .22] Trong từng nhà trường hay các cơ sở giáo dục, quản lý đánh giá giáo viên theo Chuẩn là hoạt động trung tâm đồng thời đây cũng là nội dung quan 10 lý cơ bản, quan trọng nhất trong công tác quản lý trường học.
Vì đó, vấn đề quản lý đánh giá giáo viên theo Chuẩn được các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học như đề tài: các tác giả Trần Kiều và Lê Đức Phúc (2001) trong bài “Cơ sở khoa học dé xác định Chuẩn cho Trường mam non nông thôn trong công tác chỉ đạo” [18, tr.33], đã đưa ra những vấn đề cơ bản như xác định khái niệm, thống nhất hệ thong chuẩn mực trong chỉ đạo thực hiện trên cơ sở mục tiêu giáo dục, Chuẩn và “vùng phát triển gần nhất của trẻ mầm non”, mối quan hệ giữa Chuẩn và điều kiện giáo dục, quan điểm hành động trong chỉ đạo. Các tác giả Phan Sắc Long (2005) trong bài “Chuẩn nghề nghiệp GVMN với việc đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá GV” [19], Nguyễn Thị Ngọc Quyên (2007) trong bài “Chuan nghề nghiệp GVMN và việc thiết chế hóa việc đánh giá năng lực nghề nghiệp GV theo Chuẩn” [23], Trần Ngọc Giao (2007) trong bài phỏng van “Hiệu trưởng cũng là một nghề, cần phải có Chuẩn [15]. Từ năm học 2018-2019 Bộ GD&ĐT ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo Thông tư số 20/2018/TT- BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 [6] và công văn 4530/BGDDT- NGCBQLGD hướng dẫn thực hiện Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT [5]. Nguyễn Công Duật (2000), “Thực trạng và biện pháp cơ bản phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp”.
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Tác giả đã khái quát cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở theo chuẩn nghề nghiệp. Trên cơ sở đó đánh giá thực trang phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp. Trên cơ sở lý luận và hạn chế thực trạng tác giả đã dé xuất 5 biện pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh đáp ứng theo chuan nghề nghiệp.
Nguyễn Như Mai (2009), thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành 11 Quản lý giáo dục với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học thành phố Nha Trang theo chuẩn nghề nghiệp” — DH Huế [20, tr. Nguyễn Thị Hằng (2010), với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Giáp Hải, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, ĐH Huế. Đề tài đưa ra 5 biện pháp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên THPT bao gồm Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về công tác phát triển đội ngũ giáo viên nhà trường; Đổi mới việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển nhà trường; Sử dụng đội ngũ giáo viên phù hợp với năng lực và sở trường của cá nhân và yêu cầu của nhà trường; Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất nhà giáo; Thực hiện hiệu qua công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên trung học phổ thông. Năm 2008, 2018 Bộ GD&DT ban hành chuẩn nghề nghiệp GVMN, không chỉ tạo cơ sở cho việc thiết kế chương trình đào tạo giáo viên, chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo mà còn là cơ sở dé các giáo viên tự đánh giá năng lực, phẩm chất của mình, là căn cứ để CBQL giáo dục quản lý, phát trién đội ngũ GVMN theo đúng hướng chuan hoá.
Chuan giáo viên hay chuẩn nghé nghiệp giáo viên là quy định các mức độ, yêu cầu năng lực sư phạm của người giáo viên phải đạt được trong từng giai đoạn phát triển năng lực nghề nghiệp. Chuẩn giáo viên do nhà nước ban hành và được điều chỉnh đáp ứng yêu cầu giáo dục theo từng giai đoạn.