phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động CVHT trong đào tạo theo HCTC. Chƣơng 2: Thực trạng QL hoạt động CVHT trong đào tạo theo HCTC tại trường ĐH Nguyễn Tất Thành. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động CVHT trong đào tạo theo HCTC tại trường ĐH Nguyễn Tất Thành. 18 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài, hoạt động CVHT trong trường học xuất hiện tương đối sớm, theo các tác giả Gallagher & Demo (1983), Rudolph (1990), Brubacher & Rudy (1997), từ cuối thế kỷ 18 khi các trường ĐH, CĐ đầu tiên được thành lập ở Mỹ như Harvard, William, Mary, Yale,… hoạt động CVHT đã bắt đầu được hình thành [38]. Borgard (1981), Creamer (2000), Hagen (2005) cho rằng, để hoạt động CVHT được tiến hành bài bản và trở thành một phần quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu, đòi hỏi phải có một nền tảng lý luận cụ thể [46, tr. Theo đó, các quan điểm, lý thuyết về sự phát triển của người học đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động CVHT, cụ thể: Lý thuyết hình thành tâm lý xã hội của Erikson (1963) dựa trên 8 giai đoạn phát triển của con người để chỉ ra 8 giai đoạn khủng hoảng mà SV phải đối mặt trong quá trình học tập.
Theo đó, nếu có những hỗ trợ tích cực sẽ giúp SV giải quyết được khủng hoảng trong giai đoạn hiện tại, phát triển sang giai đoạn kế tiếp. Ngược lại, khi khủng hoảng chưa được giải quyết, có thể làm gián đoạn sự phát triển của SV [46, tr. Lý thuyết 7 vector của Chickering và Reisser (1993) cho thấy sự thay đổi về mặt tâm lý xã hội của SV. Trong những năm đầu ĐH là thời gian để khám phá 3 vector đầu tiên, những năm học tiếp theo SV có thể đối mặt với vector thứ 4, 5 và có thể là thứ 6, 7 ở bậc học cao hơn.
Lý thuyết của Chickering và Reisser cho thấy vai trò CVHT là nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ, giúp SV phát triển thông qua hỗ trợ giải quyết những vấn đề trong quá trình trải nghiệm 7 vector: - Phát triển cạnh tranh 19 - QL cảm xúc - Hoạt động tự giác để đạt được sự độc lập - Phát triển mối quan hệ liên cá nhân - Nhận diện bản thân - Phát triển mục tiêu - Phát triển toàn diện [46, tr.53-56] Dựa trên sự khác biệt của mỗi cá nhân thông qua xu hướng phản ứng trước kích thích từ môi trường bên ngoài và xu hướng sử dụng những nguồn hỗ trợ sẵn có, nhóm tác giả Myers-Briggs (Myers & McCauley, 1985) phân loại cá nhân theo các cặp đặc điểm tính cách cơ bản: hướng ngoại hay hướng nội; cảm giác hay trực giác; lý tính hay cảm tính; nguyên tắc hay linh hoạt [46, tr. Đề xuất này của Kolb không chỉ giúp người dạy có định hướng rõ ràng trong việc giáo dục SV, vì không phải tất cả các SV đều có cùng một phong cách học tập, mà còn rất quan trọng trong cách tiếp cận của người cố vấn đối với vấn đề học tập, định hướng nghề nghiệp và các vấn đề về cá nhân của SV [46, tr. Có thể thấy, các lý thuyết trên đây tập trung vào phân loại cá nhân theo từng khía cạnh tâm lý (bên trong), mỗi khía cạnh sẽ quy định tính chất hành động cũng như sự phát triển của cá nhân. Khi đó, yếu tố xã hội (bên ngoài) giữ vai trò là nhân tố tác động lên các khía cạnh này, gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực trong quá trình phát triển của người học.
Hoạt động CVHT thuộc yếu tố bên ngoài tác động đến quá trình học tập của SV, do đó, CVHT phải luôn dựa trên những nhu cầu, đặc điểm riêng có, tôn trọng sự khác biệt của từng người học để xem xét, quyết định nội dung tư vấn, hỗ trợ cho phù hợp. Phát triển nội dung các quan điểm, Crookston (1972) cho rằng hoạt động tư vấn phải tạo điều kiện cho người học tương tác với môi trường xung quanh, giữa các cá 20 nhân với nhau, hình thành kỹ năng về nhận thức, đánh giá hành vi, ra quyết định và giải quyết vấn đề cho người học [46, tr. Chickering (2006) cũng thống nhất rằng, để đảm bảo về sự cam kết thành công của SV, CVHT phải hướng tới sự phát triển của SV về nhiều mặt bao gồm phát triển học thuật, cá nhân, trí tuệ và xã hội [46, tr. Bên cạnh việc xây dựng nền tảng lý luận, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến những vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạt động CVHT.
Theo Brian Gillispie (2009), với sự gia tăng của các trường ĐH trong suốt thế kỷ 19, hoạt động CVHT đã được định hình rõ ràng hơn trong việc CVHT hướng dẫn SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực, SV cũng tìm đến CVHT để tìm hiểu các vấn đề về sự công bằng, trách nhiệm xã hội, ngành nghề,. Đặc biệt, chức danh CVHT chính thức xuất hiện khi hình thức đào tạo theo HCTC ra đời [38]. Nhà nghiên cứu Lee, Courtland C. (2001) cũng đã có bài viết về hoạt động CVHT trong sự đa dạng văn hóa tại Hoa Kỳ hiện nay.
Theo tác giả, trong số các vấn đề mà CVHT phải đối mặt, việc đáp ứng số lượng ngày càng tăng của SV từ các nền văn hóa khác nhau có lẽ là thách thức lớn nhất. Nguyên nhân một phần là do các dịch vụ tư vấn trường học hiện nay thường không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học [40]. Bài viết của tác giả L. Nhóm tác giả Carlson, Laurie A; Portman, Tarrell Awe Agahe; Bartlett, Jan R (2006) tiến hành một cuộc khảo sát với 381 CVHT trong trường học ở các bang 21 Colorado, Iowa và New York về việc sử dụng công nghệ vào công tác tư vấn cho SV ở Mỹ.
Kết quả cho thấy, việc tiếp cận công nghệ vào công tác tư vấn ở trường chuyên nghiệp rất hiệu quả đồng thời được sự ủng hộ cao của các cố vấn [36]. Có thể thấy, hoạt động CVHT đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ khá sớm và đã hình thành một nền tảng lí luận cho hoạt động, tuy nhiên chỉ đến khi HCTC xuất hiện thì những tên gọi và các yêu cầu, quy định liên quan đến hoạt động này mới dần được hoàn thiện. Đó là một chặng đường dài để nghiên cứu và phát triển. Hiện nay, các tác giả cũng đã mở rộng việc tìm hiểu những vấn đề hoạt động CVHT phải đối mặt như sự đa dạng trong văn hóa, những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của SV, hay là việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động CVHT,… 1.
Tình hình nghiên cứu trong nước Những năm gần đây, hoạt động CVHT được các trường ĐH tại Việt Nam quan tâm thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình đào tạo theo HCTC. Đã có nhiều bài viết điển hình trên các sách, báo, tạp chí, websites, kỷ yếu hội thảo,… liên quan đến hoạt động CVHT. Tuy nhiên, do còn khá mới mẻ nên các nghiên cứu được giới thiệu sau đây chủ yếu tập trung về vai trò và nhiệm vụ CVHT trong công tác hỗ trợ, tư vấn cho SV, ngoài ra, còn có một vài công trình nghiên cứu về thực trạng hoạt động này tại các trường. Nghiên cứu về vai trò và nhiệm vụ của CVHT trong nhà trường Tác giả Trần Văn Hùng với bài viết đăng trên báo Giáo dục và Thời đại online (2010) đã khẳng định CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của SV, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập.
Tác giả cho rằng, đội ngũ CVHT cần có các chức năng: tư vấn, định hướng, giám sát hoạt động học tập và hướng nghiệp của SV; tham mưu cho lãnh đạo trường, khoa và bộ môn các vấn đề liên quan đến công tác QL đào tạo, nghiên cứu khoa học [17]. 22 Nhấn mạnh đến nhiệm vụ tư vấn cho người học có bài viết “Hướng dẫn xây dựng tư vấn học tập theo HCTC” của Huỳnh Xuân Nhựt (2010). Trong bài viết, tác giả khẳng định để giúp SV thực hiện quyền tự chủ trong học tập, nhà trường cần có bộ phận phụ trách tư vấn học tập cho các em. Tác giả nhấn mạnh hoạt động CVHT chỉ có thể thực hiện tốt ở cấp khoa, với sự tham gia của Ban chủ nhiệm khoa và đội ngũ GV cơ hữu vì đây là đội ngũ hiểu rõ nhất và có chuyên môn nhất đối với các môn học và chương trình đào tạo của khoa [26].
Nhằm cụ thể mục đích và ý nghĩa của việc tư vấn cho SV, tác giả Phạm Minh Hùng cho rằng giờ tư vấn học tập là một trong những hình thức được sử dụng phổ biến trong đào tạo tín chỉ. Theo tác giả, mục đích chính của giờ tư vấn là tạo cơ hội cho SV trao đổi, giải đáp thắc mắc, hệ thống hóa, củng cố những vấn đề lý thuyết mà SV chưa nắm vững. Ngoài ra có rất nhiều vấn đề khác SV cần được tư vấn từ việc đăng ký, cho đến xác định lộ trình tích lũy các môn học, học thêm ngành hai, học tích lũy lại để cải thiện kết quả học tập,. Trong tạp chí giáo dục số 268 năm 2011, tác giả Phạm Thị Thanh Hải có bài viết “Một số nội dung của công tác CVHT trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”.
Theo tác giả, CVHT được xem là một mắt xích quan trọng trong dây chuyền đào tạo theo HCTC. CVHT trong trường ĐH có thể là GV hoặc cán bộ chuyên môn. Yêu cầu đối với CVHT là phải nắm vững về chương trình đào tạo, am hiểu chính sách, quy định của nhà nước, nhà trường để có thể hỗ trợ SV hiệu quả [11, tr. Ngoài việc khẳng định vai trò CVHT là nhân tố then chốt trong mối quan hệ giữa Nhà trường – SV – Thị trường lao động, bài viết “Vai trò của CVHT trong đào tạo theo HCTC” của Tô Thiện Hiền đã đề xuất rằng, CVHT phải luôn phối hợp và hỗ trợ các phòng ban chức năng, các khoa, bộ môn trong việc tổ chức các phong trào, hoạt động ngoại khóa và tham gia các hoạt động đoàn thể cùng SV.
Đồng thời, tác giả kiến nghị xây dựng bảng công việc cụ thể để hướng dẫn và đo lường kết quả công tác CVHT [14].