Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ HOẠT ĐỘNG BOI DUONG NĂNG LỰC TU VAN GIÁO DUC CHO GIÁO VIÊN CHU NHIỆM LỚP CAP THCS Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu van đề 1. Những nghiên cứu về nang lực tư van giáo duc của giáo viên và giáo viên chủ nhiệm lớp Lịch sử nghiệp vụ TVHĐ được ghi nhận xuất phát và lớn mạnh ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Theo Frank Parsons với phòng tư van tâm lý về nghé nghiệp, ông đã sử dụng các khái niệm của tâm lý học như những đặc điểm khí chất, tính khí của mỗi con người để đánh giá sự phù hợp, các lý thuyết tâm lý về những xung động của vô thức, sau đó phát triển thành ngành học [36].
Theo Abdul Malek Abdul Rahman khăng định: “Trình độ của tư vấn viên có năng lực sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách của HS vì tư vấn viên phải cung cấp dịch vụ tốt nhất trong việc hướng dẫn và tư vấn cho HS, đồng thời hoàn thành vai trò có vấn chuyên nghiệp trong việc xây dựng thế hệ nhân cách tích cực trong tương lai” [31]. Bộ GD-ĐT xác định “Tư vấn là PP tác động mang tính định hướng GD tới những HSSV đang có những khó khăn tâm lý, tình cảm, những bức xúc của lứa tuổi cần được giải đáp, những vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp, trong tìm kiếm việc làm. Theo Hà Nhật Thăng trong cuốn sách: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” viết “Trước yêu cầu đổi mới GD, người GVCN không những phải có năng lực của một nhà sư phạm, một nhà QL, một cô vân cho các tô chức XH và gia đình, tư vấn cho HS trong học tập, rèn luyện và hoạt động XH mà còn là một nhà hoạt động chính trị - văn hóa - XH” [22]. Theo Lưu Hồng Uyên khăng định: “trẻ con chưa qua, người lớn chưa tới” nên trong đời sống tâm lý của HS THCS có nhiều diễn biến phức tạp, thậm chí xung đột nhau.
Những điều này nếu không được tư vấn, “giải tỏa” kịp thời có khi dẫn đến sự “bế tắc”, “ức chế” trong tâm lý của HS THCS. Vì thế, GVCN phải biết “đọc tâm lý” của HS cả lớp cũng như của từng HS cụ thê để tư vấn giúp HS vượt qua những khó khăn bế tắc, ức chế, vướng mắc gặp phải [26]. Các công trình nghiên cứu theo hướng nêu trên đã đề cập các vấn đề cơ bản sau: Khang định tầm quan trọng của công tác TVGD; vai trò của người GV, GVCN; Một số nghiên cứu tập trung làm rõ những phẩm chất, năng lực cần có của một tư van viên; công tác bồi dưỡng đội ngũ GV, GVCN lớp. Có thê thấy những nghiên cứu trên đã đề cập đến các vấn đề về tư vấn tâm lý; tư vấn tâm lý học đường; vai trò của người GV trong việc hỗ trợ HS; những phẩm chat, năng lực cần có của một tư van viên; công tác bồi dưỡng đội ngũ GV.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chưa đề cập đến công tác bồi dưỡng năng lực TVGD cho GVCN lớp cấp THCS ở các trường TH&THCS. Vì vậy, luận văn sẽ tiếp tục khai thác, làm rõ khía cạnh này. Những nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vẫn giáo dục cho giáo viên Tại Philippines có các cơ chế, chính sách thu hút, thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực TVGD cho GV đã được các nhà nghiên cứu đề xuất.H khẳng định: “năng lực được đảo tạo, năng lực nghề nghiệp, năng lực XH, năng lực nền tảng của nhân cách, các năng lực nghề nghiệp của GV đều được căn cứ dựa trên các kinh nghiệm được đúc kết của các nền GD tiên tiến” [33]. Michel Dvelay, Jacques Nimier cho rang: “Việc đào tạo ban đầu chỉ đủ dé GV có kiến thức cơ bản về nghề.
Sau đó GV cần được liên tục học hỏi, tự học, phát triển dựa trên nền tảng đã có và cần phải được bồi dưỡng thường xuyên [34]. Ở Pháp, hoạt động bồi dưỡng cũng luôn được chú trọng với mong muốn có đội ngũ GV chất lượng cao nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch GD-ĐT. Ở Hàn Quốc, có 2 loại bồi dưỡng: BD cấp chứng chỉ và BD nâng cao nghiệp vụ. Bùi Thị Huyền, Hoàng Anh Phước với nghiên cứu cho thấy: “GV hiện đang thiếu kiến thức về tâm lí học đường và kĩ năng tư vấn tâm lí chuyên nghiệp còn hạn chế.
Vì vậy, GV có nhu cầu cao dé bồi dưỡng về kiến thức, kĩ năng tư van cũng như mong muốn được bồi dưỡng định kì nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lí góp phan đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ tâm lí của HS [11]. Theo Phan Trọng Ngọ đã dé xuất các mô hình tham van, tư vấn tâm lí HS, việc phát triển năng lực tham vấn, tư vấn cho đội ngũ GV hiện nay cần quan tâm hơn tới các kiến thức và kĩ năng tham vấn và các năng lực gắn với xu thế phát triển và thành tựu của CNTT và kết nối mạng [16]. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập các vấn đề: Một số nghiên cứu trong nước tập trung phân tích thực trạng năng lực của đội ngũ GV, trong đó đề cập đến những hạn chế của năng lực hỗ trợ, tư vấn người học của đội ngũ GV THCS; nhấn mạnh tam quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực tư vấn, hỗ trợ học đường cho đội ngũ GV nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bồi dưỡng năng lực tư vấn tâm lí góp phần đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ tâm lí của HS. Bồi dưỡng nâng cao NL cho GV là nhiệm vụ quan trọng và cần phải được tiến hành liên tục, thường xuyên; Xác định ND, PP, cách thức BD và đưa ra các biện pháp đổi mới căn bản về phương thức BD GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD THCS hiện nay.
Những nghiên cứu về quan lý bồi dưỡng năng lực tư vẫn giáo dục cho giáo viên Tại Pháp, ngoài bồi dưỡng GV thì công tác bồi đưỡng CBQL GD cũng được chú trọng. Các tác giả với các nghiên cứu: Patrice Pelpel: “Tự đào tạo để dạy học”, Michel Develay: “Một số van đề về đào tạo GV”, Marguerite Altet: “Dao tạo GV vé nghiệp vụ”, James H.Mc Millan: “Kiểm tra đánh giá lớp học — Nguyên tắc va thực hành dé giảng dạy hiệu quả”, Michel Develay: “Một số van đề về đào tạo GV” đã trình bày bồi duéng GV cần được đổi mới theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, thường xuyên góp phần đổi mới hoạt động bồi dưỡng và quản lý HĐ bồi dưỡng GV [18], [34], [15]. Theo Đỗ Bích Diệp đã đề xuất các biện pháp: “Chỉ đạo thực hiện quy trình bồi dưỡng năng lực tham vấn học đường cho phù hợp với điều kiện thực tiễn; Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng cho GV THCS; Chỉ đạo đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng; Đặc biệt, tác giả nhân mạnh đến biện pháp ứng dụng CNTT trong bồi dưỡng” [5]. Theo Doãn Thế Tài với nghiên cứu của minh đã trình bày: “các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực TVGD cho đội ngũ GVCN lớp vùng đặc biệt khó khăn” [21].
Theo Nguyễn Xuân Đoàn đề xuất: “xây dựng kế hoạch bồi đưỡng NL TVGD cho GV phù hợp với thực tiễn, da dang hóa các hình thức tổ chức bồi dưỡng NL TVGD theo hướng tích cực hóa người hoc. Những nghiên cứu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động TVGD. Tuy nhiên nghiên cứu về năng lực TVGD và quản lí bồi dưỡng năng lực TVGD cho GVCN lớp cấp THCS ở các trường TH&THCS còn là khoảng trống Vì vậy tác giả chọn nghiên cứu này mong muốn sẽ bé sung thêm những khía cạnh mới cho vấn đề bồi dưỡng năng lực TVGD cho GVCN lớp cấp THCS ở các trường TH&THCS nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp trong công tác quản lí bồi dưỡng năng lực TVGD cho GVCN lớp cấp THCS ở các trường TH&THCS. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Theo Henry Fayol: "QL là một hoạt động mà mọi tô chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tô chức, chi đạo, điều chỉnh và kiểm soát” dẫn theo [6]. Theo Warren Bennis, nói rằng: “QL là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo” [29]. Theo Đặng Quốc Bảo với cuốn sách “Khoa học Tổ chức va QL”, tác giả quan niệm: “QL là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức đề đạt được những mục tiêu cụ thể” [1]. Theo Đặng Bá Lãm, “QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người dé đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [14].
Từ đó theo chúng tôi: “QL là sự tác động liên tục có tô chức, có định hướng cua chủ thể lên khách thé về các mặt chính trị, van hoá, xã hội, kinh té. bang một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trưởng và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng ”. Giáo viên chủ nhiệm lớp Theo từ điển Tiếng Việt: “Chủ nhiệm là người đứng đầu và chịu trách nhiệm chính một số tổ chức” [19]. Theo Nguyễn Thi Tinh và các cộng sự: “GVCN lớp là người thay thế hiệu trưởng QL và GD toàn diện tập thê HS một lớp học” [23].
Theo Điều lệ trường trung học: “GVCN lớp là GV bộ môn dạy lớp đó, được Hiệu trưởng chỉ định làm nhiệm vụ QL, cộng tác, phối hợp với các lực lượng trong nhà trường thực hiện các hoạt động GD nhằm thúc day sự tiễn bộ của tập thể lớp, của các thành viên trong lớp”. Nhu vậy theo chúng tôi: “GVCN lớp là người làm nhiệm vụ giảng day tại một lớp, là người OL và chịu trách nhiệm chính về lớp do”. Bồi dưỡng Theo UNESCO: “BD với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chi diễn ra khi cá nhân và tô chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của mình dé đáp ứng nghề nghiệp”.
Theo Nguyễn Minh Đường “BD có thể coi là một quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được xác định bằng một chứng chỉ” [7].