Luận văn: Quản lý bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở các trường THPT Bình Phước

Chuyên khảo phân tích Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở một số trường trung học phổ thông tỉnh bình phước, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

183
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khám phá mô hình bồi dưỡng học sinh năng khiếu Bình Phước

Hoạt động bồi dưỡng học sinh năng khiếu (HSNK) là nhiệm vụ trọng tâm, đóng vai trò nền tảng trong chiến lược phát hiện và bồi dưỡng nhân tài của ngành giáo dục. Tại tỉnh Bình Phước, công tác này được xem là một trong những giải pháp then chốt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương và đất nước. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã xác định rõ: “Bồi dưỡng nhân tài” là một trong ba trụ cột chính của giáo dục, bên cạnh nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước cùng các trường THPT trên địa bàn, đặc biệt là các trường trọng điểm như trường THPT chuyên Quang Trung, đã và đang triển khai nhiều biện pháp quản lý giáo dục nhằm hệ thống hóa và nâng cao hiệu quả công tác này. Mục đích không chỉ dừng lại ở việc chuẩn bị cho các kỳ thi học sinh giỏi các cấp mà còn hướng tới việc phát triển năng lực học sinh một cách toàn diện, khơi dậy niềm đam mê khoa học và khả năng tư duy sáng tạo. Quá trình này đòi hỏi một sự đầu tư bài bản về nguồn lực bồi dưỡng học sinh năng khiếu, bao gồm đội ngũ giáo viên giỏi, cơ sở vật chất hiện đại và một chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi được xây dựng khoa học, có hệ thống.

1.1. Tầm quan trọng của việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài”. Nhân tài không tự nhiên mà có, mà phải trải qua một quá trình phát hiện, bồi dưỡng và rèn luyện công phu. Do đó, công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu tại các trường phổ thông chính là bước đi đầu tiên, có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng nguồn “nguyên khí quốc gia”. Hoạt động này không chỉ giúp các em phát huy tối đa tiềm năng, mà còn tạo động lực thi đua học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học chung trong toàn trường. Một nhà trường có thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi sẽ khẳng định được uy tín, thương hiệu và chất lượng đào tạo, từ đó thu hút được nhiều học sinh tài năng hơn.

1.2. Mục tiêu cốt lõi của chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi

Mục tiêu chính của hoạt động bồi dưỡng không chỉ là đạt giải cao trong các kỳ thi. Mục tiêu sâu xa hơn là trang bị cho HSNK một nền tảng kiến thức chuyên sâu, vững chắc cùng các kỹ năng tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá và sáng tạo. Theo nghiên cứu của Dương Thị Thảo (2017), chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi cần giúp học sinh “phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao”, “bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo” và “phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời”. Đây là nền tảng để các em có thể tiếp tục học tập, nghiên cứu ở các bậc học cao hơn và trở thành những chuyên gia giỏi trong tương lai.

II. Phân tích thách thức quản lý học sinh năng khiếu Bình Phước

Thực trạng dạy và học ở Bình Phước trong lĩnh vực bồi dưỡng HSNK đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên vẫn còn tồn tại không ít khó khăn và thách thức. Theo khảo sát tại một số trường THPT, công tác quản lý hoạt động này vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục để có thể tạo ra sự đột phá về chất lượng. Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên và cả phụ huynh về tầm quan trọng của công tác này. Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ giáo viên tham gia bồi dưỡng chưa đồng đều, đặc biệt là thiếu vắng lực lượng giáo viên trẻ có chuyên môn sâu và nhiệt huyết. Nguồn lực bồi dưỡng học sinh năng khiếu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài liệu tham khảo chuyên sâu còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học nâng cao. Theo luận văn của Dương Thị Thảo (2017), sự chênh lệch lớn về kết quả giữa các trường có điều kiện tương đồng cho thấy vai trò của hiệu trưởng và hiệu quả quản lý là yếu tố quyết định. Việc đổi mới quản lý hoạt động giáo dục là yêu cầu cấp thiết để giải quyết các tồn tại này.

2.1. Hạn chế trong công tác tuyển chọn và xây dựng đội ngũ

Việc phát hiện và tuyển chọn HSNK ở nhiều trường còn mang tính hình thức, chưa thực sự khoa học và đồng bộ. Quá trình này chủ yếu dựa vào kết quả học tập trên lớp hoặc qua một vài bài kiểm tra, chưa có công cụ đánh giá toàn diện năng lực và tố chất của học sinh. Về đội ngũ, mặc dù giáo viên có kinh nghiệm, nhưng một số chưa được cập nhật thường xuyên các phương pháp giảng dạy hiện đại và kiến thức chuyên môn mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên dạy đội tuyển chưa được tổ chức bài bản và thường xuyên, dẫn đến việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi gặp nhiều trở ngại. Thiếu các chính sách cho giáo viên và học sinh năng khiếu đủ mạnh cũng làm giảm động lực cống hiến.

2.2. Bất cập về chương trình và phương pháp kiểm tra đánh giá

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc thiếu một khung chương trình bồi dưỡng HSNK chuẩn. Hầu hết các giáo viên phải tự biên soạn tài liệu dựa trên kinh nghiệm cá nhân, dẫn đến sự thiếu nhất quán và hệ thống. Hơn nữa, hoạt động kiểm tra, đánh giá vẫn còn nặng về kiểm tra kiến thức, chưa chú trọng đánh giá hiệu quả công tác bồi dưỡng thông qua năng lực vận dụng, giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo của học sinh. Các hình thức đánh giá chưa đa dạng, chủ yếu vẫn là các bài thi tự luận truyền thống, chưa khai thác hết tiềm năng của các phương pháp đánh giá hiện đại.

III. Bí quyết nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng nhân tài

Để công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả bền vững, biện pháp đầu tiên và mang tính nền tảng là phải nâng cao nhận thức cho tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục. Nhận thức đúng đắn sẽ dẫn đến hành động đúng đắn. Vai trò của hiệu trưởng là trung tâm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và truyền thông để đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh và cả phụ huynh hiểu rõ vị trí, tầm quan trọng của hoạt động này. Cần phải làm rõ rằng, đầu tư cho HSNK không phải là chạy theo thành tích mà là đầu tư cho tương lai, cho việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thực sự. Các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo cần được tổ chức thường xuyên để quán triệt chủ trương của ngành và chia sẻ các kinh nghiệm tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi. Việc xây dựng một môi trường giáo dục coi trọng và khuyến khích tài năng sẽ là động lực mạnh mẽ nhất, thúc đẩy tất cả các bên cùng nỗ lực. Đây là một trong những biện pháp quản lý giáo dục chiến lược, có tác động lâu dài đến chất lượng của đội tuyển học sinh giỏi tỉnh Bình Phước.

3.1. Truyền thông và phổ biến chủ trương chính sách của ngành

Ban giám hiệu nhà trường cần chủ động tổ chức các buổi họp, sinh hoạt chuyên môn để phổ biến sâu rộng các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước về công tác bồi dưỡng nhân tài. Nội dung truyền thông cần nhấn mạnh lợi ích kép của hoạt động này: vừa nâng cao thành tích mũi nhọn của trường, vừa tạo ra những tấm gương học tập, lan tỏa tinh thần hiếu học trong toàn thể học sinh. Việc vinh danh, khen thưởng kịp thời các giáo viên và học sinh đạt thành tích cao cũng là một hình thức truyền thông hiệu quả, tạo hiệu ứng tích cực trong cộng đồng.

3.2. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội

Thành công của công tác bồi dưỡng HSNK không thể thiếu sự đồng hành của gia đình và xã hội. Nhà trường cần tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi riêng với phụ huynh có con em trong đội tuyển để thống nhất về quan điểm, phương pháp giáo dục và tạo điều kiện tốt nhất cho các em học tập. Huy động các nguồn lực xã hội hóa, sự ủng hộ từ các cựu học sinh thành đạt, các doanh nghiệp để xây dựng quỹ khuyến học, trao học bổng và cải thiện cơ sở vật chất cũng là một giải pháp quan trọng, thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến việc phát triển năng lực học sinh.

IV. Top 5 phương pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSNK hiệu quả

Để cụ thể hóa chiến lược, việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nội dung quản lý một cách khoa học, bài bản là yếu tố quyết định trực tiếp đến thành công. Đây là nhóm biện pháp quản lý giáo dục cốt lõi, tập trung vào việc đổi mới quản lý hoạt động giáo dục từ khâu lập kế hoạch đến kiểm tra, đánh giá. Hiệu trưởng cần phát huy vai trò nhạc trưởng, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn để tạo thành một hệ thống vận hành nhịp nhàng. Việc xây dựng một chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi chi tiết, khoa học cho từng môn, bám sát cấu trúc đề thi nhưng vẫn đảm bảo tính sáng tạo là nhiệm vụ hàng đầu. Quá trình tuyển chọn học sinh cần được cải tiến theo hướng đa dạng hóa các hình thức đánh giá. Theo đề xuất trong luận văn của Dương Thị Thảo (2017), cần “tổ chức hiệu quả việc thi tuyển để thành lập các đội tuyển HSNK” một cách công bằng, minh bạch. Đồng thời, việc quản lý chặt chẽ giờ dạy, đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn và đẩy mạnh đào tạo nội bộ cho giáo viên là những giải pháp không thể thiếu để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi.

4.1. Xây dựng kế hoạch và chương trình bồi dưỡng khoa học

Kế hoạch bồi dưỡng cần được xây dựng từ đầu năm học, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình thời gian, nội dung kiến thức và phân công giáo viên phụ trách. Chương trình cần được thiết kế theo các chuyên đề từ cơ bản đến nâng cao, có sự cập nhật thường xuyên các dạng bài tập mới và kiến thức chuyên sâu. Ban giám hiệu cần duyệt và giám sát chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch, chương trình của từng tổ chuyên môn và giáo viên, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả. Đây là nền tảng của một mô hình quản lý trường THPT chuyên nghiệp.

4.2. Đổi mới quy trình tuyển chọn và đánh giá định kỳ HSNK

Thay vì chỉ dựa vào điểm số, quy trình tuyển chọn cần kết hợp nhiều hình thức: thi viết (tự luận và trắc nghiệm), phỏng vấn trực tiếp, đánh giá hồ sơ năng lực và xem xét ý kiến giới thiệu của giáo viên bộ môn. Sau khi thành lập đội tuyển, nhà trường cần tổ chức các kỳ kiểm tra, khảo sát chất lượng định kỳ (ít nhất 2-3 lần/năm học) để sàng lọc, bổ sung thành viên, đồng thời giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh phương pháp dạy và học. Việc đánh giá hiệu quả công tác bồi dưỡng phải được thực hiện một cách khách quan và minh bạch.

4.3. Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn về HSNK

Sinh hoạt tổ chuyên môn không nên chỉ dừng lại ở việc triển khai kế hoạch. Cần biến đây thành các buổi sinh hoạt học thuật thực sự, nơi các giáo viên cùng nhau thảo luận về các chuyên đề khó, chia sẻ kinh nghiệm tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, phân tích cấu trúc đề thi các năm và xây dựng ngân hàng đề thi chung. Khuyến khích giáo viên dự giờ, thao giảng các tiết dạy đội tuyển để cùng nhau rút kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

V. Hướng dẫn xây dựng chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh

Yếu tố con người luôn là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục. Để giáo viên và học sinh toàn tâm toàn ý cống hiến cho công tác bồi dưỡng, cần có những biện pháp hỗ trợ và tạo động lực kịp thời, tương xứng. Các chính sách cho giáo viên và học sinh năng khiếu không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là sự ghi nhận, tôn vinh những nỗ lực và thành quả của họ. Việc xây dựng một quy chế chi tiêu nội bộ rõ ràng, trong đó có các định mức khen thưởng cụ thể cho giáo viên và học sinh đạt giải ở các cấp là vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, nhà trường cần tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, cơ sở vật chất, tài liệu để giáo viên và học sinh có thể tập trung vào giảng dạy và học tập. Luận văn của Dương Thị Thảo (2017) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “tạo động lực cho GV và HS”, cho rằng “công tác thi đua khen thưởng đôi khi còn chưa kịp thời”. Do đó, việc đổi mới quản lý hoạt động giáo dục phải bao gồm cả việc hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút và giữ chân nhân tài, đảm bảo nguồn lực bồi dưỡng học sinh năng khiếu được phát huy tối đa.

5.1. Xây dựng chế độ đãi ngộ và khen thưởng xứng đáng

Nhà trường cần xây dựng quy chế thi đua, khen thưởng cụ thể, công khai và áp dụng nhất quán. Mức thưởng cần hấp dẫn, tương xứng với công sức bỏ ra và thành tích đạt được. Ngoài thưởng tiền mặt, các hình thức vinh danh khác như tuyên dương trước toàn trường, ghi danh trên bảng vàng, đề xuất nâng lương trước thời hạn cho giáo viên cũng có tác dụng khích lệ rất lớn. Huy động quỹ khuyến học từ các nguồn xã hội hóa để trao học bổng cho học sinh giỏi cũng là một giải pháp hiệu quả, giúp các em giảm bớt gánh nặng kinh tế và yên tâm học tập.

5.2. Đầu tư cơ sở vật chất và tạo môi trường học tập lý tưởng

Một môi trường học tập tốt là nguồn động lực quan trọng. Nhà trường cần ưu tiên đầu tư, nâng cấp các phòng học chức năng, phòng thí nghiệm, thư viện với đầy đủ trang thiết bị hiện đại và tài liệu tham khảo phong phú. Tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tiếp cận với các nguồn tài nguyên học tập trực tuyến, tham gia các diễn đàn khoa học, các cuộc thi sáng tạo trong và ngoài nước để mở rộng tầm nhìn và giao lưu học hỏi. Môi trường học tập cởi mở, khuyến khích sự sáng tạo và tranh luận học thuật sẽ là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm tài năng.

VI. Tương lai công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu Bình Phước

Quản lý hoạt động bồi dưỡng HSNK là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự đầu tư chiến lược và những giải pháp đồng bộ. Hướng đi tương lai cho công tác này tại tỉnh Bình Phước là cần tiếp tục chuẩn hóa và hệ thống hóa các biện pháp quản lý giáo dục đã được đề xuất, biến chúng thành các quy trình thường xuyên trong mỗi nhà trường. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, giảng dạy và đánh giá sẽ là một xu thế tất yếu, giúp nâng cao hiệu quả và tiết kiệm nguồn lực. Xây dựng một mạng lưới liên kết, trao đổi kinh nghiệm giữa các trường THPT trong tỉnh, đặc biệt là với trường THPT chuyên Quang Trung, sẽ tạo ra một cộng đồng học thuật vững mạnh. Tầm nhìn xa hơn là không chỉ tập trung vào các kỳ thi học sinh giỏi các môn văn hóa, mà cần mở rộng sang các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, nghệ thuật, thể thao để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài một cách toàn diện. Sự thành công của công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu sẽ là minh chứng rõ nét nhất cho sự phát triển bền vững của giáo dục tỉnh nhà, góp phần tạo nên một thế hệ trẻ Bình Phước tài năng, sáng tạo, sẵn sàng hội nhập và cống hiến.

6.1. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số

Tương lai của giáo dục gắn liền với chuyển đổi số. Cần khuyến khích giáo viên và học sinh sử dụng các nền tảng học tập trực tuyến, phần mềm mô phỏng thí nghiệm và các công cụ AI để cá nhân hóa lộ trình học tập. Việc xây dựng một kho học liệu số dùng chung cho các đội tuyển trong toàn tỉnh sẽ giúp chia sẻ tài nguyên và nâng cao chất lượng bồi dưỡng một cách đồng đều. Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Phước có thể đóng vai trò chủ trì trong việc xây dựng và quản lý nền tảng này.

6.2. Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng tài năng

Bên cạnh các đội tuyển học sinh giỏi truyền thống, các trường cần phát triển thêm nhiều mô hình bồi dưỡng tài năng khác như các câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, các dự án khởi nghiệp học sinh, các đội tuyển tham gia cuộc thi hùng biện, robot... Việc này không chỉ giúp phát triển năng lực học sinh một cách đa dạng mà còn đáp ứng được sở thích và năng khiếu khác nhau của các em, hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện và hội nhập quốc tế.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ viết tắt và các bảng phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động BD HSNK và công tác quản lý hoạt động BD HSNK ở trƣờng THPT Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động BD HSNK ở một số trƣờng trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc Chƣơng 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BD HSNK ở các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc 9. Đóng góp của đề tài Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến HĐ BD HSNK ở các trƣờng Phổ thông. Ngoài ra, 6 nghiên cứu về QL HĐ BD HSNK ở các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc sẽ giúp giải quyết đƣợc một số vấn đề thực tiễn liên quan đến QL HĐ BD HSNK nói riêng và QL chuyên môn nói chung ở các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Phƣớc. 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LU N VỀ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG HỌC SINH NĂNG KHIẾU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG HỌC SINH NĂNG KHIẾU Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.

Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan về các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK đã đƣợc thực hiện từ rất lâu và rất đƣợc coi trọng ở nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc phát triển. Ngay từ bậc học phổ thông, các nhà trƣờng đã đƣa việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK vào chiến lƣợc GD. Nhiều nƣớc xem BD HSNK là một dạng GD đặc biệt.

Chính việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK đã giúp các nƣớc phát triển nhanh chóng [35]. Nghiên cứu của Graffam (2006) trên 2 nhóm GV giỏi, có kinh nghiệm và có thành tích tốt trong GD HSNK với những trải nghiệm khác nhau, đều đƣa đến quan điểm chung về những việc mà họ cảm thấy cần thiết cho GD HSNK: (1) GD HSNK đòi hỏi GV phải xây dựng việc học cá nhân và việc học nhóm cùng lúc. (2) Cách thức mà một ngƣời thực hiện để thở thành GV dạy HSNK rất quan trọng: Kiến thức bản thân, đào tạo trƣớc đây và phản xạ chuyên nghiệp sẽ giúp cho GVBD chuẩn bị các nhiệm vụ giảng dạy. (3) Một số yếu tố về tiêu chuẩn của việc GD năng khiếu mà đƣợc xem nhƣ là các khái niệm cá nhân thì đƣợc đúc kết trong việc thực hành của GV giỏi khi dạy HSNK.

Nghiên cứu của Ford (2006), cho rằng: Để giảm khoảng cách về thành tích học tập đối với 2 đối tƣợng HS khác nhau ở Hoa Kỳ (HS da trắng và HS da đen) thì trong GD HSNK cần: (1) Chính xác hóa chƣơng trình GD. (2) Đảm bảo chất lƣợng GV và sự chuẩn bị cho HĐ GD. (3) Kinh nghiệm của GV và sự tham gia. (4) Số lƣợng HS trong lớp học.

(5) Ứng dụng Công nghệ thông tin. 8 Nghiên cứu của Newfoundland và Bộ Giáo dục Labrador (2013), đã chỉ ra những quan niệm sai về GD HS năng khiếu và tài năng nhƣ: (1) HSNK là những ngƣời có thành tựu cao/thành tích tốt. (2) Tất cả HS/mọi ngƣời đều có năng khiếu và tài năng. (3) HSNK sẽ tốt dù có hay không có chƣơng trình đặc biệt.

(4) HSNK xuất thân từ những gia đình có điều kiện. (5) Học hợp tác hoặc các hình thức học nhóm khác là phƣơng pháp hiệu quả đáp ứng đƣợc nhu cầu HSNK. (6) HSNK thƣờng gặp khó khăn trong việc hòa đồng với bạn bè. (7) GD năng khiếu là chiếm lĩnh hàng đầu.

Đồng thời đƣa ra khái niệm “Năng khiếu” theo nghĩa hẹp và chỉ ra những đặc tính của HS có năng khiếu [43]. Tác giả Đỗ Ngọc Thống (2007), cho rằng: phần lớn các nƣớc trên thế giới đều chú ý BD HSNK từ Tiểu học. Cách tổ chức dạy học cũng rất đa dạng: Có nƣớc tổ chức thành lớp, trƣờng riêng; một số nƣớc tổ chức dƣới hình thức tự chọn hoặc khóa học (course) học mùa hè; một số nƣớc do các trung tâm tƣ nhân hoặc các trƣờng đại học đảm nhận,. Tuy vậy, cũng có một số nƣớc không có trƣờng lớp chuyên cho HSNK nhƣ Nhật Bản và một số bang của Hoa kỳ.

Chẳng hạn: Từ 2001, với đạo luật “Không một đứa trẻ nào bị bỏ rơi” (No Child Left Behind) GD HSNK ở Georgia về cơ bản bị phá bỏ. Nhiều trƣờng không còn là trƣờng riêng, lớp riêng cho HSNK, với tƣ tƣởng các HSNK cần có trong các lớp bình thƣờng nhằm giúp các trƣờng lấp lỗ hổng về chất lƣợng và nhà trƣờng có thể đáp ứng nhu cầu GD HSNK thông qua các nhóm và các khóa học với trình độ cao. Chính vì thế, vấn đề BD HSNK đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận, nhiều nhà GD đề nghị đƣa HSNK vào các lớp bình thƣờng với nhiều HS có trình độ và khả năng khác nhau, với một phƣơng pháp GD nhƣ nhau [35]. Vấn đề mà tôi quan tâm và rút ra đƣợc qua việc nghiên cứu các tài liệu, bài viết về GD HSNK ở các nƣớc phát triển, đó là, cách thức phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK ở các nƣớc rất đa dạng phong phú, có thể là tổ chức thành trƣờng chuyên lớp chọn; có thể khuyến khích và hƣớng dẫn HS đam mê, sáng tạo, tự BD; có thể đƣa vào tất cả các trƣờng học bình thƣờng với những lớp học bình thƣờng,…vv.

Tuy nhiên, tất cả các nƣớc trên thế giới đều có một điểm chung là họ đều rất quan tâm 9 đến việc phát hiện, tuyển chọn và BD HSNK để đào tạo ra những nhân tài phục vụ cho sự phát triển và phồn thịnh của Quốc gia. Cụ thể nhƣ sau: Ở Mỹ, việc phát hiện, tuyển chọn, BD và sử dụng nhân tài đƣợc xác định thành chiến lƣợc quốc gia, đƣợc đầu tƣ lớn và áp dụng rộng rãi từ HS phổ thông cho đến những ngƣời trƣởng thành và thành đạt, trong đó khâu đào tạo và BD nhân tài trẻ tuổi đƣợc thực hiện rất hiệu quả thông qua các chƣơng trình đào tạo nhân tài phổ biến trong các trƣờng đại học lớn. Hình thức GD linh hoạt đối với HSNK đƣợc ghi nhận ở Mỹ đầu tiên là việc cho phép một số HSNK đƣợc học chƣơng trình 6 năm chỉ trong vòng 4 năm tại Trƣờng St. Public School Louis 1868.

Trong Thế kỷ XX, tại Mỹ có hàng loạt các trung tâm nghiên cứu, BD HSNK đƣợc thành lập. Đến năm 2002, đã có 38 bang có đạo luật về GD HSNK (Gifted and Talented Student Act). Bên cạnh đó, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia hàng đầu trong việc thu hút các HSNK từ nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam thông qua các chƣơng trình học bổng du học. Các nƣớc châu Âu nhƣ Anh, Pháp, Đức, Nga tiến hành phân loại đối tƣợng theo mức độ phát triển trí tuệ và áp dụng những chƣơng trình GD đặc biệt đối với những đối tƣợng có năng lực trí tuệ cao.

Một trong những điển hình của trƣờng lớp đặc biệt kiểu này là trƣờng Hành chính Quốc gia Pháp, nơi đào tạo nhiều quan chức cao cấp cho nhà nƣớc Pháp và một số nƣớc khác. Tại đây, việc bổ nhiệm chức vụ tƣơng xứng ngay sau khi tốt nghiệp chƣơng trình đào tạo đặc biệt đƣợc áp dụng một cách trực tiếp, thậm chí không cần cấp văn bằng, chứng chỉ cho học viên tốt nghiệp khoá học. Đào tạo, BD tài năng cũng rất đƣợc chú trọng ở nhiều nƣớc châu Á, trƣớc hết là thông qua các trƣờng lớp, chƣơng trình GD chất lƣợng cao dành cho những HSNK và các kỳ thi tuyển chọn HSG. Nhật Bản không có hệ thống trƣờng riêng dành cho HSNK, nhƣng Nhật Bản coi vận mệnh của nƣớc mình trong tƣơng lai là việc BD thế hệ thanh niên có đạo đức, có tài năng, có sức sáng tạo để gánh vác trọng trách của Thế kỷ XXI.

Việc cạnh tranh suất vào các trƣờng đại học danh tiếng đã trở nên rất gay gắt. Chính vì 10 vậy, HS và các gia đình buộc phải nỗ lực đầu tƣ công sức, trí tuệ, tài chính cho việc học tập. Ở Trung Quốc, từ năm 1985 ngƣời ta đã thừa nhận phải có chƣơng trình GD đặc biệt dành riêng cho hai đối tƣợng khác nhau là HS yếu kém và HSNK, trong đó cho phép HSNK có thể học vƣợt lớp. Chiến lƣợc phát triển nhân tài của Trung Quốc đã đƣợc triển khai từ rất sớm trên phạm vi cả nƣớc.

Chiến lƣợc đó đƣợc thực hiện bài bản từ khâu tuyển chọn đến xây dựng chƣơng trình, phƣơng thức đào tạo, sử dụng và chế độ đãi ngộ, đặc biệt chú trọng gửi sinh viên, cán bộ tài năng đi du học và tu nghiệp dài hạn, ngắn hạn ở những nƣớc phát triển. Tổng quan về các nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, GD HSNK là một nội dung quan trọng của ngành GD-ĐT đƣợc quy định trong các Văn kiện của Đảng, Điều lệ trƣờng trung học cơ sở, THPT và trƣờng Phổ thông có nhiều cấp học và trong nhiệm vụ trọng tâm năm học của Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT. Với phạm vi nghiên cứu có hạn, chúng tôi nhận thấy có một số tác giả sau nghiên cứu vấn đề này: Về GD HSNK, tác giá Đỗ Tiến Đạt (2010), đã phân tích kỹ giáo dục năng khiếu ở Hoa Kỳ và Hồng Kông, tìm hiểu khái quát một số nƣớc châu Âu, châu Úc và châu Á để xác định xu thế BD HSNK trên thế giới. Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm và tìm hiểu nhu cầu về GD năng khiếu ở Việt Nam.

Có thể tóm lƣợc những nội dung cơ bản trong nghiên cứu của ông nhƣ sau: (1) Các nƣớc phát triển và Việt Nam đều rất coi trọng GD năng khiếu. Điều này thể hiện ở các điều Luật, ở chƣơng trình GD năng khiếu riêng. (2) Các nƣớc đều cho rằng, năng khiếu thƣờng nảy nở từ rất sớm nên phát triển hệ thống nhận dạng, phát hiện năng khiếu từ tiểu học là một nhiệm vụ trọng đại quốc gia. (3) Việt Nam và tất cả các quốc gia khác đều phát triển chƣơng trình giáo dục năng khiếu từ chƣơng trình giáo dục phổ thông.

[47] Tác giả Kim Ngọc Minh (2013), đã nghiên cứu và đƣa ra một số giải pháp tiền đề trong phát triển giáo dục năng khiếu và tài năng tại Việt Nam, có tính đến hƣớng liên kết và thúc đẩy phát triển trong khu vực ASEAN, áp dụng các mô hình thành công quốc tế tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc, nghiên cứu của ông đề cập đến 3 vấn đề: (1) Tại sao phải xác định GD năng khiếu và tài năng nhƣ là một hƣớng ƣu 11 tiên thực sự ?. (2) Một số giải pháp tiền đề trong GD năng khiếu và tài năng ?.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ