CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục mầm non luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm vì đây là cấp học đầu tiên góp phần hình thành nhân cách của con người xã hội. Một trong những yếu tố đảm bảo chất lượng bậc học mầm non chính là vai trò của đội ngũ giáo viên mầm non. Có thể khẳng định, giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng hiệu quả giáo dục.
Giáo dục nhân cách con người trên cơ sở 3 môi trường giáo dục: Giáo dục gia đình; giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài xã hội. Trong đó, giáo dục nhà trường dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên vẫn là con đường cơ bản có hiệu quả cao nhất. Có thể nói đội ngũ giáo viên là nhân vật trung tâm của mọi chương trình cải cách, cải tổ, đổi mới giáo dục; giáo viên có vai trò quan trọng trong việc biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, đồng thời cũng quyết định chất lượng và hiệu quả của toàn bộ quá trình giáo dục. Như vậy, vị trí và vai trò của người thầy giáo được khẳng định trên cơ sở nhân tố quyết định chất lượng giáo dục.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, yếu tố quan trọng là phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, muốn nâng cao chất lượng cho đội ngũ GV, thì việc tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên có tầm quan trọng hết sức đặc biệt. Muốn hoạt động bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả thì công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên, để công tác bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đề cập công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Tuy nhiên, có nhiều 7 quan điểm khác nhau trong việc đánh giá vai trò và tầm quan trọng của các cấp quản lý; nhiều nhà khoa học đánh giá cao vai trò của hiệu trưởng trong việc quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên, cho rằng chất lượng và sự thành công của mỗi nhà trường phụ thuộc vào Hiệu trưởng; trong khi đó nhiều nhà khoa học lại đánh giá cao vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Viện bồi dưỡng giáo viên từ trung ương đến địa phương.
Với việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên của những nhà giáo dục trên thế giới, mặc dù cách tiếp cận nghiên cứu có khác nhau, song các nhà giáo dục đều đánh giá cao vai trò của các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Mặc dù vai trò và tầm quan trọng của các cấp quản lý ở mỗi cấp học trong hoạt động bồi dưỡng có khác nhau nhưng đều đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo viên. Nếu hoạt động bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả thì chất lượng giáo viên được nâng lên. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng phát triển, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục như hiện nay.
Để làm định hướng cho quá trình bồi dưỡng giáo viên, Bộ GD&ĐT đã ban hành chuẩn nghề nghiệp GVMN [14]. Thông tư 20/2015/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 14/09/2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT - Bộ Nội vụ ban hành ban hành quy định về Chuẩn chức danh nghề nghiệp mầm non [13]. Tiếp đó, ngày 26/8/2019, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 12/2019/TT-BGD&ĐT về Chương trình bồi dưỡng thường xuyên GVMN [15]. Trong đó, quy định nội dung chương trình bồi dưỡng và 35 mô đun bồi dưỡng cũng như thời lượng bồi dưỡng;, các văn bản trên gồm những tiêu chuẩn cụ thể làm căn cứ để xây dựng mục tiêu, nội dung bồi dưỡng và đánh giá chất lượng ĐNGV mầm non nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu giáo dục của nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn thể hiện sự quan tâm đến sự nghiệp giáo 8 dục và đào tạo con người cho xã hội mới, cho dân tộc Việt Nam. Người nhấn mạnh rằng bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người có lý tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức trong sáng, có kiến thức văn hóa, khoa học kĩ thuật và kĩ năng lao động, có sức khỏe, có ý chí vươn đến cái chân, thiện, mỹ. Trong "Lời dặn của Bác Hồ với GVMN" ngày 23/9/1959, Bác đã dặn làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ.
Muốn làm được thế thì phải yêu trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt. Anh chị em GVMN cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo.Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh về “trồng người” làm nền tảng lý luận vững chắc, là "kim chỉ nam" cho sự nghiệp phát triển giáo dục và ra sức thực hiện đường lối đổi mới mục tiêu giáo dục. Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội XII của Đảng xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nhấn mạnh vai trò của ĐNGV trong nhiệm vụ này. Nếu không quan tâm đến việc bồi dưỡng giáo viên thì không thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển xã hội, nâng cao chất lượng GVMN những người thực hiện mục tiêu giáo dục đầu tiên của nền giáo dục nước ta hiện nay. Cần phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa ĐNGV theo từng cấp học và trình độ đào tạo [26].
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập vấn đề bồi dưỡng cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên như Nguyễn Văn Lê với cuốn sách "Nghề thầy giáo” [25]; Nhóm tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa với 9 cuốn sách "Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất ĐNGV" [7]; nhóm tác giả: Lê Xuân Hồng, Trần Quốc Minh, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai và Lê Thị Khang với “Cẩm nang dành cho giáo viên trường mầm non” [24], các tác giả đều đề cập vai trò của người giáo viên, kỹ năng sư phạm, đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng GV để nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức cho ĐNGV và đưa những khía cạnh đa dạng, đặc trưng về các vấn đề khó khăn của trẻ, phụ huynh, GVMN; nhấn mạnh việc bồi dưỡng ĐNGV cần theo một hệ thống từ Trung ương đến địa phương, hình thức, giải pháp bồi dưỡng phong phú mang tính định hướng, tùy thuộc vào điều kiện quốc gia, địa phương với việc xây dựng quy trình phù hợp, từng bước nâng cao chất lượng ĐNGV. Trong những năm gần đây, đã có nhiều luận văn thạc sĩ giáo dục học, khoa học quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề quản lý ĐTBD giáo viên như: “Biện pháp quản lý phát triển ĐNGV mầm non theo Chuẩn nghề nghiệp ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” của tác giả Lê Thị Thanh Thủy (2013), “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo ngành giáo dục MN ở trường Cao đẳng Bình Bịnh” của tác giả Đoàn Thị Minh Hạnh (2015), “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở các trường mầm non quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lưu Thị Khánh Trung (2018). Luận văn của các tác giả đã nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về GDMN, phân tích thực trạng, bối cảnh đổi mới giáo dục, quản lý chất lượng đội ngũ GVMN. đề xuất quản lý, đổi mới mục tiêu, nội dung, phương thức kiểm tra, đánh giá trong đào tạo bồi dưỡng; đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cho GVMN phù hợp tình hình địa phương, điều kiện cụ thể của nhà trường; từng bước cải thiện quá trình đào tạo bồi dưỡng GVMN trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục nước ta.
Từ tổng quan các nghiên cứu trên, có thể thấy rằng ở trong nước cũng 10 như nước ngoài, vấn đề bồi dưỡng giáo viên và quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên đã được các nhà giáo dục học và các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu về vấn đề này trên đối tượng GVMN huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Do đó, việc tiến hành Đề án này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Các khái niệm chính của Đề án 1.
Giáo viên mầm non Điều lệ trường mầm non (2020) [18] đã xác định: Giáo viên mầm non làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong trường ầm non và cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Luật Giáo dục (2019) [28] cũng đã nêu rõ “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục MN, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là GV; ở các cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [Khoản 1, Điều 66, Mục 1, Chương IV]. Giáo viên mầm non phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên (Khoản 1, Điều 72, Mục 3, Chương 4) [28]. Giáo viên có những nhiệm vụ sau đây [18].
- Bảo vệ an toàn về thể chất, tinh thần và tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở nhà trường. - Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình giáo dục mầm non. - Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; thực hiện quy tắc ứng xử của giáo viên, các quy định về đạo đức nhà giáo theo quy định. - Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ của trẻ em; chủ động phối hợp với gia đình của trẻ em để thực hiện mục tiêu 11 giáo dục trẻ em.
- Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.