CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 1. Đăng ký hộ tịch 1. Khái niệm đăng ký hộ tịch 1.
Khái niệm “ hộ tịch” Dưới góc độ ngôn ngữ học và khoa học pháp lý, "hộ tịch" đang được hiểu và áp dụng theo nhiều cách khác nhau. Từ mặt ngữ pháp, "hộ tịch" là một từ ghép Hán Việt. Trong ngữ cảnh quản lý dân cư, đặc biệt là đăng ký và quản lý hộ tịch, "hộ" được hiểu là dân sự, nhà ở, trong khi "tịch" mang ý nghĩa của sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc. Kết hợp nghĩa của hai từ này, "hộ tịch" có thể được giải thích là một cuốn sổ ghi chép, đăng ký các thông tin liên quan đến gia đình hoặc hộ gia đình.
Từ góc độ khoa học pháp lý, "hộ tịch" được hiểu là tập hợp các sự kiện nhân thân liên quan đến cá nhân từ khi sinh ra đến khi qua đời. Đây bao gồm các sự kiện như sinh, kết hôn, đăng ký và các sự kiện khác. Nếu nhìn nhận theo chiều rộng hơn, "hộ tịch" còn bao gồm cả các sự kiện liên quan đến cư trú và tư cách pháp lý của cá nhân, cũng như tình trạng dân sự như quốc tịch, năng lực hành vi, và năng lực pháp luật. Nói cách khác, "hộ tịch" đánh dấu và phân biệt mỗi cá nhân với những người khác thông qua việc ghi nhận và quản lý các thông tin cá nhân và gia đình của họ.
Ở một số quốc gia trên thế giới, khái niệm về hộ tịch đã được đề cập, đặc biệt là trong tiếng Anh, thuật ngữ "Civil registration" được hiểu là việc đăng ký đúng thời hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với cơ quan chính phủ trong thời hạn quy định. Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp không cung cấp định nghĩa riêng về hộ tịch mà chỉ đề cập đến khái niệm “Chứng thư hộ tịch". Tuy nhiên, trong tiếng Pháp, từ "registre d'état civil" Trần Thị Việt Nga (2019), Đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện đồng hỷ, tỉnh Thái Nguyên – thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 7 cũng được hiểu là việc đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân. Do đó, cả hai khái niệm này đều có thể hiểu là việc đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân.
Các quốc gia có hệ thống pháp luật theo truyền thống luật thành văn (còn gọi là hệ thống luật lục địa), với Pháp là đại diện tiêu biểu nhất, thì khái niệm này thường gắn liền với khái niệm “Thân trang” và được hiểu là "căn cước, tình trạng dân sự của một cá nhân" (tiếng Pháp là "état des personnes"). Tuy nhiên, hiện nay, theo các tài liệu và được Liên hiệp quốc công nhận và chính thức sử dụng thường xuyên, khái niệm "Civil registration" có nghĩa là "Đăng ký hộ tịch là việc ghi nhớ liên tục các đặc điểm về sự tồn tại và tình trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ, phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia". Như vậy, có thể thấy về mặt ngôn ngữ học, từ "hộ tịch" đang được sử dụng trong pháp luật Việt Nam hiện nay đều có sự tương đồng về ngữ nghĩa với khái niệm của pháp luật về hộ tịch của nước ngoài. Tại Việt Nam, theo khoản 1, Điều 2, Luật Hộ tịch 2014 thì “Hộ tịch là những sự kiện được quy định về việc xác nhận khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử; xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến chết”.
Đặc điểm của hộ tịch - Là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân của con người từ khi sinh ra đến khi chết. Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính phân biệt từng cá nhân con người. - Là những giá trị về nguyên tắc không chuyển đổi cho người khác. Do đó việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trường hợp pháp luật có quy định khác (như khai sinh, khai tử) - Là những sự kiện nhân thân không lượng hóa được thành tiền, không thể trở thành một loại hàng hóa để có thể trao đổi trên thị trường.
8 - Có sự liên quan mật thiết đến các yếu tố tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo… của nhân dân, phản ánh gần gũi đối với đời sống của nhân dân. Khái niệm “đăng ký hộ tịch” Hoạt động đăng ký hộ tịch của cơ quan hành chính nhà nước có vai trò là một trong những loại hình DVC thiết yếu phục vụ cá nhân, công dân và giúp nhà nước quản lý hộ tịch một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự và an toàn xã hội. Nhận thức được vai trò cốt lõi của quyền con người trong xã hội hiện đại, hầu hết các quốc gia đều dành sự quan tâm đúng đắn cho việc quản lý hộ tịch. Hoạt động này đóng vai trò thiết yếu trong việc quản lý dân cư, góp phần đảm bảo an ninh trật tự và xây dựng một xã hội văn minh.
"Đăng ký hộ tịch là nền tảng vững chắc cho quyền dân sự của mỗi cá nhân. Nó bảo vệ mỗi cá nhân cũng như bảo vệ toàn xã hội". Tại Việt Nam, khái niệm “ đăng ký hộ tịch” được quy định theo khoản 2, Điều 2, Luật Hộ tịch 2014, “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư. Nguyên tắc đăng ký hộ tịch Theo Điều 5, Luật Hộ tịch 2014, nguyên tắc đăng ký hộ tịch bao gồm: Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân trong đăng ký hộ tịch. Thể theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Bộ luật dân sự năm 2015 đã khẳng định quyền được khai sinh của mỗi cá nhân từ khi được sinh ra được Nhà nước tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm.
Thứ hai, mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan, chính xác, nếu điều kiện đăng ký hộ tịch của Ruth Kelly ( 2002), Nghiên cứu về hoạt động đăng ký hộ tịch tại nước Anh trong thế kỷ 21. 9 công dân không đáp ứng quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng ký từ chối giải quyết bằng văn bản và giải thích rõ lý do. Thứ ba, đối với những việc hộ tịch mà Luật Hộ tịch 2014 không quy định thời hạn giải quyết, sẽ được giải quyết ngay trong ngày; trong trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì kết quả sẽ được trả trong ngày làm việc tiếp theo. Thứ tư, mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Trong trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú, UBND cấp huyện, UBND cấp xã, hoặc cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân sẽ có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến UBND cấp xã nơi cá nhân đó thường trú. Thứ năm, mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ vào CSDLHT điện tử. Đây là một bước đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đăng ký và quản lý nhà nước về lĩnh vực hộ tịch, góp phần hiện đại hóa công tác quản lý dân cư.
Để đảm bảo tính chính xác, tin cậy và hiệu quả của CSDLHT điện tử, việc cập nhật kịp thời, đầy đủ mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch là vô cùng cần thiết, góp phần hỗ trợ việc tra cứu thông tin hộ tịch trở nên nhanh chóng, dễ dàng và chính xác hơn, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các cơ quan chức năng và người dân. Thứ sáu, nội dung khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc của cá nhân trong CSDLHT là thông tin đầu vào của CSDLQG về dân cư. Nhờ có thông tin hộ tịch làm cầu nối, các cơ quan nhà nước có thể liên thông thông tin về dân cư một cách thuận lợi, phục vụ cho công tác quản lý và phục vụ người dân. Bên cạnh đó, góp phần hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước, nâng cao chất 10 lượng cuộc sống của người dân, giúp người dân có thể dễ dàng truy cập thông tin cá nhân, thực hiện các TTHC trực tuyến, tiết kiệm thời gian và chi phí.
Thứ bảy, bảo đảm công khai, minh bạch thủ tục đăng ký hộ tịch. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất được quy định trong Luật Hộ tịch 2014, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực hộ tịch. Các cơ quan có trách nhiệm đăng ký hộ tịch cần phải thực hiện niêm yết, công khai rộng rãi các quy định về thủ tục đăng ký hộ tịch, bao gồm hồ sơ, thời gian, lệ phí,. trên các phương tiện thông tin đại chúng, website của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tại trụ sở làm việc.
Quy trình đăng ký hộ tịch minh bạch được đơn giản hóa, dễ hiểu, dễ thực hiện. Các bước thực hiện TTHC trong lĩnh vực hộ tịch được công khai rõ ràng, đảm bảo sự nhất quán và đồng bộ trên toàn quốc. Việc công khai, minh bạch TTHC nên được thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài có như vậy thì người dân mới có cơ sở giám sát hoạt động của cơ quan đăng ký hộ tịch. Nội dung đăng ký hộ tịch Theo quy định tại Điều 3, Luật Hộ tịch 2014 thì “Nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm việc xác nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân.