CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Do đặc điểm của nghề nghiệp, GV cần phải thường xuyên được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Vấn đề đặt ra ở đây là việc quản lý bồi dưỡng GV sao cho đạt yêu cầu đề ra, sao cho hiệu quả để GV luôn đảm bảo vai trò nòng cốt trong hoạt động dạy học ở trường học.
Về Luật Giáo dục: Từ những năm 90 của thế kỷ XX, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Luật Giáo dục (1998), Luật Giáo dục (2005), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2009) có hiệu lực từ 01/7/2010. Đây là những văn bản pháp luật chỉ đạo hoạt động thống nhất của hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, đồng thời là văn bản pháp quy giúp đội ngũ CBQL thực hiện trong công tác quản lý. Về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta: Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó bồi dưỡng GV luôn đặt ra song song với nhiệm vụ dạy học, nhiều quy định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng và các văn bản của ngành, như những năm gần đây có: Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân. Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng thực hiện một số biện pháp “Xây dựng đội ngũ GV phổ thông đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu” [72, tr.2], đồng thời yêu cầu xây dựng và thực hiện “Phát triển đội ngũ nhà giáo; chuẩn hóa trình độ của đội ngũ nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục; cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và bồi dưỡng GV” [72, tr.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Chấp TW Đảng về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đã nhấn mạnh mục tiêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo. đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [1, tr. Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005-2010” có nêu nhiệm vụ chủ yếu: “Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo thuộc các cơ sở giáo dục và dạy nghề công lập và ngoài công lập, bảo đảm đến năm 2010 đáp ứng đủ về số lượng, trong đó có 80% GV bậc mầm non, 100% GV các cấp, bậc học phổ thông, dạy nghề đạt chuẩn đào tạo theo quy định” [75, tr.HCM, Thành ủy TP.HCM có Kế hoạch số 54/KH-TU ngày 21/7/2005 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW trong toàn Đảng bộ Thành phố. Đối với ngành GD&ĐT TP.HCM, Sở GD&ĐT đã lập đề án và ban hành kèm Quyết định số 217/QĐ-GDĐT-TC ngày 06/12/2005 về việc phê duyệt đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005-2010” [66].
Như vậy, ngành Giáo dục đã được chủ trương của Nhà nước về bồi dưỡng GV theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ hóa và từng bước hiện đại hóa vừa trước mắt, vừa lâu dài. Quán triệt chủ trương và tinh thần chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, ngành GD&ĐT Quận 3, TP.HCM đã triển khai đến toàn ngành Giáo dục quận bằng văn bản số 36/PGD-TC ngày 20/10/2006 hướng dẫn, chỉ đạo các trường thực hiện “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục” (giai đoạn 2005-2010 và những năm tiếp theo) [53]. Về lĩnh vực nghiên cứu: Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng GV, vấn đề công tác quản lý của hiệu trưởng… trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đút kết quý báu của những nhà nghiên cứu khoa học như: GS. Phạm Minh Hạc, GS.
Nguyễn Ngọc Quang, GS. Đặng Vũ Hoạt, GS. Vũ Ngọc Hải, PGS. Đặng Quốc Bảo, PGS.TS Trần Kiểm.
Hoàng Tâm Sơn, PGS. Bùi Ngọc Oánh, PGS. Đoàn Văn Điều, TS. Hồ Văn Liên, TS.
Trần Thị Hương, TS. Võ Thị Bích Hạnh, TS. Ngô Đình Qua, TS. là những Thầy, Cô có nhiều tâm huyết đối với sự nghiệp đào tạo ra những CBQL giáo dục và những nhà giáo trực tiếp tham gia dạy học ở các bậc học trường phổ thông.
Về đề tài nghiên cứu: Tại trường ĐHSP TP.HCM những năm gần đây, trong các luận văn thạc sỹ nghiên cứu về QLGD đề cập đến bồi dưỡng GV, nhất là GV THCS vẫn còn khá ít. Tại Quận 3, TP.HCM trong suốt hơn 20 năm qua, ngành GD&ĐT Quận 3 có 10 CBQL và GV đạt trình độ thạc sỹ nhưng chưa có ai nghiên cứu đề tài nào đề cập đến công tác bồi dưỡng GV. Hiện nay, ngành GD&ĐT cả nước đang tập trung đẩy mạnh triển khai sâu rộng, quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI diễn ra (tháng 01/2011) thành công, đưa Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn 2011-2020 có nêu “…phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân” [35].
Đây là một mệnh lệnh vô cùng quan trọng giao cho ngành GD&ĐT phải khẩn trương đẩy mạnh đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và GV trong thời kỳ mới để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học 1. Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Từ xưa trong lịch sử loài người đã ra đời một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là lao động nhằm để tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, là lao động ban đầu nhằm để quản lý con người và sau đó là quản lý xã hội, dạng lao động đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.
Theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) thì định nghĩa “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Harold Koontz, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Xét quản lý với tư cách là một hành động, PGS.
TSKH Vũ Ngọc Hải định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Từ những khái niệm và quan điểm trên, có thể tóm lược chung “Quản lý là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để cùng thực hiện thành công nhiệm vụ, mục tiêu dự kiến đề ra. Mô hình quản lý U U Mục tiêu quản lý Đối tượng và Khách Chủ thể quản lý thể quản lý Môi trường quản lý 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội, là một hiện tượng xã hội đặc biệt được tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống.
Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Vì vậy, sự ra đời của QLGD là một tất yếu khách quan. Các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực QLGD đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm. Khu-đô-min-xki: “QLGD là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa của họ” [50, tr.
Hoàng Tâm Sơn “QLGD là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QLGD đến khách thể QLGD nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [63, tr. Như vậy, QLGD là quản lý quá trình GD&ĐT ở một cơ sở nhất định, là tập hợp các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau trong hệ thống lên các đối tượng quản lý trực thuộc, thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý và việc sử dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành, đảm bảo được các tính chất và nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam đạt được mục tiêu giáo dục. Mô hình quản lý giáo dục U U Chủ thể quản Đối tượng và Mục tiêu lý giáo dục khách thể quản quản lý lý giáo dục 1. Quản lý trường học Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước - xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác GD&ĐT, nó nằm trong môi trường xã hội và có tác động qua lại với môi trường đó.
Tại Điều 48 Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”. Quản lý trường học là một dạng quản lý lao động sư phạm, đó là bản chất của quá trình dạy học, giáo dục.