Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giáo dục mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM NON 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục mầm non 1.
Giáo dục Khái niệm giáo dục được các nhà khoa học hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Theo tác giả Hà Thị Mai cho rằng: về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau: - Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người.
Quá trình xã hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân. - Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội. Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. - Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm.
Quá trình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp. 11 + Ở cấp độ thứ tư, Giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu. [23, tr2] Và theo tác giả Nguyễn Thị Ánh: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ bằng tri thức và khái niệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội.TS Nguyễn Thu Linh và GS.TS Bùi Văn Nhơn, “Giáo dục đó là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như hình thành nhân cách của con người.
Giáo dục diễn ra thường xuyên, liên tục ở nhiều môi trường hoạt động của con người (trong gia đình, nơi làm việc, trong nhà trường, trong quan hệ xã hội), trong đó, môi trường ở nhà trường có vai trò quyết định” [29, tr 67]. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có thể hiểu khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đói tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Giáo dục mầm non Giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
[35, Điều 21]Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. [35, Điều 22] 12 GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm: (i) Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi; (ii) Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi; (iii) Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. GDMN phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.
Vì vậy, chương trình GDMN là sự cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Quản lý nhà nước Nhà nước ra đời là một tất yếu trong lịch sử để đảm nhận sứ mệnh cao cả là duy trì sự ổn định, phát triển chung toàn xã hội thông qua các hoạt động quản lý. Nội hàm quản lý nhà nước có thể thay đổi tùy thuộc vào chế độ chính trị, bối cảnh lịch sử hay đặc điểm văn hoá, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia qua các thời kỳ. Trong xã hội có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý như: Tổ chức đảng, Nhà nước, ban lãnh đạo các tổ chức kinh tế, xã hội, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội,.
nhưng so sánh hoạt động giữa các tổ chức này cho thấy quản lý nhà nước có những điểm khác biệt. Trước hết, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp; 13 Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; Thứ ba, phạm vi quản lý nhà nước là toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xă hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý, được ban hành chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội. Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội. Như vậy, khái niệm về quản lý nhà nước được hiểu là: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm bảo sự ổn định và phát triển toàn xã hội.
Quản lý nhà nước về giáo dục mầm non Từ các khái niệm quản lý nhà nước, GDMN, tác giả có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về GDMN như sau: quản lý nhà nước về GDMN là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, chức năng nhiệm vụ của nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình hoạt động GDMN và mọi hành vi hoạt động của các cơ sở GDMN cũng như đội ngũ cán bộ, công chức quản lý GDMN. Quản lý nhà nước về GDMN có 03 bộ phận chính gồm: chủ thể, đối tượng và mục tiêu quản lý nhà nước về GDMN. Chủ thể quản lý nhà nước về GDMN là các cơ quan quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, chủ thể trực tiếp là bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở được cụ thể hóa ở điều 100 của Luật Giáo dục năm 2005.
14 Đối tượng của quản lý nhà nước về GDMN là hệ thống giáo dục quốc dân, là mọi hoạt động GDMN trong phạm vi toàn xã hội. Mục tiêu quản lý nhà nước về GDMN là đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật trong các hoạt động giáo dục nói chung và GDMN nói riêng. Quản lý nhà nước về GDMN là một hệ thống, bao gồm: các thể chế, cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý giáo dục ở các cấp. Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp.
Cơ chế quản lý giáo dục là tập hợp hệ thống các chính sách, nguyên tắc, quy chế, chế độ… quy định các mối quan hệ, cách thức vận hành các hoạt động quản lý ở các cấp, giữa chủ thể và khách thể quản lý trong hoạt động giáo dục. Có vai trò gắn kết các thành phần trong hệ thống quản lý hướng các hoạt động quản lý vào các mục tiêu quản lý, thiếu cơ chế quản lý thì hệ thống không thể vận hành được. Sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc về giáo dục mầm non 1. Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con người.
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý, tâm lý vận động, tâm lý xã hội. đã khẳng định sự phát triển củatrẻ từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Vì vậy, GDMN là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.