Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO QUAN ĐIỂM LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục lấy người học làm trung tâm nhưng với bậc học mầm non thì những nghiên cứu này còn khiêm tốn, chưa có nhiều đặc biệt là nghiên cứu về hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ thế kỷ 19 trở lại đây, khi thế giới liên tục phát triển khoa học kỹ thuật ở những đỉnh cao mới từ thế kỷ của tài nguyên thiên nhiên sang thế kỷ số thì nhận thức về sự phát triển của mỗi quốc gia đã thay đổi rất nhiều. Vai trò của giáo dục ngày càng được coi trọng và đánh giá cao.
Có nhiều quốc gia coi giáo dục là tiêu chí để phát triển đất nước. Vì đó, nhiều nhà giáo dục đã đi sâu nghiên cứu về hoạt động giáo dục trẻ, tiêu biểu như: Người có những đóng góp mang tính nền tảng cho giáo dục thế giới, trước hết là nhà giáo dục người Đức Friedrich Froebel (1782-1852). Ông là người thành lập nhà trẻ đầu tiên trên thế giới vào năm 1837 và đặt tên là Trường mẫu giáo. Ông khẳng định, mỗi đứa trẻ sinh ra đều có một bản chất tinh thần nội tại- một động lực sống luôn tìm cách để thoát ra ngoài thông qua tự hoạt động.
Froebel tin rằng trường mầm non nên tập trung vào hoạt động vui chơi vì vui chơi tạo điều kiện cho quá trình tóm lược văn hóa, sự bắt chước những hành động nghề nghiệp của người lớn và sự xã hội hóa của trẻ. Ông phát hiện giai đoạn quan trọng nhất để phát triển bộ não con người là từ khi sinh ra cho đến 3 tuổi. Đến hiện nay, các giáo viên mầm non vẫn đang tiếp tục đề cao quan điểm của Froebel. Ông trở thành một trong những nhà cải cách giáo dục mạnh mẽ nhất của thế kỷ 19 nhờ nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giáo dục mầm non [12].
5 Nhà giáo dục người Ý Maria Montessori (1870-1952) sáng tạo ra phương pháp giáo dục mang tên mình và hiện đang được áp dụng rộng rãi tại hơn 30.000 trường mầm non trên thế giới. Theo bà, trẻ em chủ yếu tự học, trách nhiệm chính của giáo viên là tạo ra môi trường thích hợp và kích thích trẻ phát triển tự nhiên. Bà đề cao việc để trẻ di chuyển và tự học hỏi mọi thứ từ xung quanh hơn là buộc chúng ngồi yên và được giảng dạy thụ động. Maria Montessori cũng quan tâm đến giáo dục hòa bình và kết hợp vào công việc của mình.
Tại trường mầm non Montessori, trẻ em được phép khám phá lớp học, thiên nhiên và thế giới xung quanh thay vì chỉ ngồi một chỗ lắng nghe giáo viên giảng bài. Triết lý giáo dục của Montessori đề cao tính tự chủ trong học tập của trẻ ở giai đoạn trước 6 tuổi. Giáo viên cung cấp giáo cụ học tập để học sinh tự cảm nhận, trải nghiệm và tự lựa chọn hoạt động thu hút nhất [13]. Nhà giáo dục người Bỉ Ovidd Docrôtti nửa đầu thế kỷ 20 đã vận dụng nguyên tắc giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”, trẻ được tự do hoạt động theo ý thích, người lớn không áp đặt trẻ theo ý muốn của mình.
Dạy trẻ đi từ đơn giản đến phức tạp, đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng và luôn kết hợp các hoạt động của trẻ với trò chơi nhằm gây hứng thú cho trẻ. Từ những kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa não bộ kỳ diệu của trẻ sơ sinh và lứa tuổi mầm non, nhiều quốc gia phát triển thế giới đã dựa trên các phát hiện sớm về sự phát triển của não bộ để phát minh ra những công nghệ giáo dục nhằm kích hoạt tiềm năng sâu của bọ não con người ngay từ những năm đầu đời chuẩn bị cho chiến lược giáo dục của thế kỷ 21. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đào tạo với phát triển trí thông minh sớm, về giáo dục não phải, bồi dưỡng nhân tài trong đó phải kể đến người đi tiên phong trong công cuộc cách mạng giáo dục sớm đến từ các quốc gia phát triển là Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc [15]. Tiên phong trong lĩnh vực giáo dục sớm là giáo sư người Nhật Bản Shichida Makoto.
Ông dựa trên những căn cứ khoa học về sự phát triển của bán cầu não phải để xây dựng nên phương pháp Shichida trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non. Theo đó, Trẻ em trong giai đoạn từ 0 đến 6,5 tuổi được cho rằng có năng lực hấp thụ kiến thức mạnh mẽ nhất. Ở giai đoạn này, khả năng tiếp nhận và hấp thụ của trẻ tuyệt vời đến mức thiên tài nêu không được tác động mang tính giáo dục thì 6 não sẽ không thể phát huy tối ưu và khả năng hấp thụ ấy sẽ biến mất. Những kiến thức được tiếp nhận vào khoảng thời gian này sẽ được ghi nhớ vào tiềm thức của trẻ một cách nguyên vẹn; theo thời gian những kiến thức này sẽ trở thành khả năng vận hành năng lực suy nghĩ, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo ở trình độ cao [16].
Phương pháp Shichida đã được phát triển dựa trên nền tảng khoa học và chứng thực về não phải, cân bằng phát triển hai bán cầu não. Từ đó, khả năng của trẻ không chỉ dừng lại ở các kỹ năng cơ bản mà qua đó phát triển hình thành tính cách, năng lực tư duy, tình yêu và sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái. Đối với trẻ nhỏ việc giúp bé phát triển khả năng tư duy sáng tạo là điều rất quan trọng, vì vậy cha mẹ cần quan tâm giúp trẻ rèn luyện kích thích hoạt động của não phải để bồi dưỡng cho trẻ tư duy sáng tạo. Đến nay, phương pháp Shichida đã có hàng trăm cơ sở giáo dục trên toàn nước Nhật và 1 số nước trên thế giới như Đài Loan, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Mỹ, Úc, Canada, Việt Nam… đồng thời, phương pháp này cũng được sử dụng cho người trưởng thành [16].
Giáo sư Glenn Doman (Mỹ) phát triển phương pháp giáo dục nhằm khơi dậy và phát triển trí thông minh của trẻ nhỏ dựa trên các kỹ năng: Đọc, toán học và năng lực nhận thức sâu, rộng. Ông tin rằng, học Đọc là cơ sở của mọi sự học tập, lĩnh hội tri thức và sự thành công Bác sỹ tâm lý học người Ý Loris Malaguzzi (1920-1994) đã sáng tạo phương pháp giáo dục Reggio Emilia, là phương pháp giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm, tin rằng các bé có khả năng thể hiện sự sáng tạo của mình theo nhiều cách khác nhau thông qua nhiều loại ngôn ngữ. Đây là phương pháp giáo dục trẻ mầm non phát triển kỹ năng toàn diện bằng việc cho phép trẻ tự do khám phá môi trường xung quanh trong không gian học tập mở, dựa trên nền tảng lắng nghe và thấu hiểu nhu cầu của các bé. Các bé được khuyến khích đặt câu hỏi và khám phá để cẩm nhận sự biến đổi không ngừng của thế giới.
Đặc biệt các bé được tham gia nhiều hoạt động vui chơi dựa trên sự tự nguyện, tự giác và tích cực [17]. Miler (1983) đã chỉ ra nguồn gốc của tư duy là quan sát - nhận thức cảm tính về thế giới xung quanh. Tuy nhiên đứa trẻ không quan sát một cách thụ động mà tác động tích cực vào đối tượng khi tri giác chúng. Chính trong quá 7 trình hành động với đồ vật trẻ học được cách đối chiếu, so sánh, phân tích các sự vật.
Như vậy, theo ông thì cơ sở để hình thành tư duy logic cao cấp chính là các hành động thực tiễn của trẻ. Đây là quan niệm căn bản cho những nghiên cứu sau này của các nhà tâm lý về quá trình phát triển tư duy của trẻ em [36]. (1995), hai ông đều là người Mỹ. Trong cuốn sách hai ông đã trình bày sự hình thành, phát triển tâm - sinh lý con người (cá nhân) từ khi là thai nhi cho đến khi mất đi mà con người phải thử nghiệm, cùng với những thực tế gì sẽ tạo ra và thúc đẩy sự hình thành tâm lý đó, đồng thời nêu ra những phúc lơị xã hội nên và cần có để đảm bảo cho tâm sinh lý con người phát triển thành những nhân cách có lợi cho xã hội, cho nhân loại.
Trong cuốn sách này hai tác giả cũng đã nêu quan điểm của mình về sự nhận thức qua phân tích thuyết của 2 nhà tâm lý học vĩ đại Jean Piaget và VyGotsky [38]. Học tập lấy học sinh làm trung tâm có nghĩa là đảo ngược sự hiểu biết truyền thống của giáo viên về quá trình học tập và đưa học sinh vào trung tâm của quá trình học tập. Trong lớp học lấy giáo viên làm trung tâm, giáo viên là nguồn kiến thức chính. Trong khi đó đối với lớp học lấy học sinh làm trung tâm, học tập tích cực được khuyến khích mạnh mẽ (John, Leo, 2007).
Armstrong (2012) tuyên bố rằng "giáo dục truyền thống bỏ qua hoặc triệt tiêu trách nhiệm của người học". Những nghiên cứu chỉ ra rằng điểm khác biệt giữa lớp học lấy giáo viên làm trung tâm với lớp học lấy học sinh làm trung tâm là khi giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, trái ngược với vai trò người quyết định khi giáo viên là trung tâm. Về bản chất, mục tiêu của giáo viên trong quá trình học tập là hướng dẫn học sinh đưa ra những diễn giải mới về tài liệu học tập từ những trải nghiệm về nội dung, khẳng định lại quan điểm của Rogers rằng "việc học có ý nghĩa có được thông qua việc làm" (Kraft, RG 1994). Việc đặt người học làm trung tâm sẽ giúp cho việc tìm hiểu, khám phá kiến thức không đơn thuần chỉ là từ giáo viên.
Người học sẽ có xu hướng học tập hợp tác để giải quyết các vấn đề trong quá trình học tập. Theo lý thuyết của Lev Vygotsky về “vùng phát triển gần (ZPD)”, người học thường học hỏi một cách gián tiếp thông qua nhau. Việc lấy người học làm trung tâm rất quan trọng khi bồi dưỡng kỹ năng 8 tư duy độc lập. Vygotsky tuyên bố: "Học tập hướng tới các cấp độ phát triển đã đạt được là không hiệu quả từ quan điểm phát triển toàn diện của trẻ.
Nó không nhắm đến một giai đoạn mới của quá trình phát triển mà chỉ chậm lại quá trình này" [19].