Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG sử DỤNG MẠNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC cơ SỞ THEO HƯỚNG PHỐI HỢP CÁC LỤC LƯỢNG GIÁO DỤC LI. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Vào năm 1969, tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã cho ra đời mạng xương sống Nsfnet(Nation Science Foundation and Net) là tiền thân của internet và những mạng vùng khác đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới năm 1995, Nsíhet thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển.
Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội. Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện từ trên Internet. Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích. Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh.
Tuy nhiên sự phát triển quá nhanh này cũng là con dao hai lưỡi: server của Friendster thường bị quá tải mồi ngày, gây bất bình cho rất nhiều thành viên [42, tr. Mạng xã hội MySpace ra đời vào năm 2004 và thu hút hàng ngàn thành viên mới mỗi ngày nhờ tính năng phim ảnh và chat. Các thành viên từ Friendster cũng chuyển sang MySpace và chỉ trong vòng một năm, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có lượt xem vượt trội hơn cà Google. Tập đoàn News Corporation đã mua lại MySpace với giá 580 triệu USD.
6 Facebook, ra đời vào năm 2006, mang đên một bước ngoặt mới cho mạng xã hội trực tuyến. Với nền tảng lập trình "Facebook Platform", thành viên có thể tạo ra các công cụ (apps) mới cho cá nhân và người dùng khác. Facebook Platform nhanh chóng gặt hái thành công, mang đến hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp quan trọng cho thời gian trung bình mà mỗi thành viên dành cho trang này, ước tính khoảng 19 phút mỗi ngày. Cũng từ những bước đệm đó hàng loạt nghiên cứu về mạng xã hội được ra đời, một mặt đế mở rộng những trang MXH hiện có, mặt khác các nhà khoa học của chúng ta đã nhận thấy ảnh hưởng của nó đến con người ở ba lĩnh vực: khoa học và công nghệ, xã hội học, tâm lý học.
(1) Các nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực khoa học và công nghệ như: Hai tác giả Acquisti Alessandro và Gross Ralph (2006), Trường Cao đẳng Robinson Vương Quốc Anh, đã nghiên cứu về Tưởng tượng cộng đồng: nâng cao nhận thức, chia sẻ thông tin và bảo mật trên Facebook, Báo cáo đã cho thấy trong những năm gần đây sự tăng lên cùa các thành viên trên những trang mạng xã hội trực tuyến như Friendster, MySpace hay Facebook để liên lạc, nâng cao sự riêng tư và an ninh. Báo cáo còn nhấn mạnh về việc nghiên cứu các thành viên trên Facebook về vấn đề nhân khấu học và hành vi giữa các thành viên cộng đồng có sự khác biệt không, phân tích các mối quan tâm riêng tư, so sánh thái độ nói với hành vi thực tế. Và kết luận rằng mối quan. /X 1 1 r /X r 4 1 ' 1 tâm riêng tư của một cá nhân là chỉ là một yêu tô dự báo yêu của các thành 9 9 viên của mình về mạng.
Cá nhân riêng tư cũng quan tâm tham gia mạng và cho thấy một lượng lớn thông tin cá nhân. Quản lý một số vấn đề riêng tư của họ bằng cách tin tưởng vào khả năng kiểm soát các thông tin mà họ cung cấp và truy cập bên ngoài vào nó. Tuy nhiên, chúng ta thấy quan niệm sai lầm đáng kể trong một số thành viên về tầm nhìn với cộng đồng trực tuyến và các khả năng hiển thị hồ sơ của họ. Còn nhóm tác giả Ahn, Yong-Yeol, Han, s.Moon, và Jeong.H 7 (2007), với bài nghiên cứu Phân tích các đặc diêm topo của các dịch vụ mạng xã hội trực tuyến khổng lồ.
Nghiên cứu cho thấy sự so sánh các cấu trúc của ba dịch vụ mạng xã hội trực tuyến: Cyworld, MySpace, và Orkut, tuơng ứng với hon 10 triệu nguời sử dụng, để hoàn thành dữ liệu của Cyworld (bạn bè) và phân tích mức độ phân phối nhóm, tài sản nhóm, tương quan mức độ, và tiến hóa theo thời gian. Một số dịch vụ mạng xã hội trực tuyến khuyến khích các hoạt động trực tuyến có thể không được dễ dàng sao chép trong cuộc sổng thực, chúng ta thấy rằng họ đi chệch khỏi các mạng xã hội trực tuyến gắn bó đó cho thấy một mô hình tương quan mức độ tương tự như các mạng xã hội thực tế. Ngoài ra còn có tác giả Ahn June (2011) trên Tạp chí của Hiệp hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Mỹ đã có bài viết về Hiệu quả của các trang mạng xã hội của thanh thiếu niên: lý thuyết hiện đại và những tranh cãi. (2) Các nhà xã hội học còn nhắc đến nhiều hơn trong lĩnh vực của mình như: Nhóm tác giả Baumgartner, JC, và Moms, JS (2010) Chính trị mạng xã hội MyFaceTube hay sự tham gia của chính người lớn.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chính mạnh xã hội đã tạo điều kiện cho các nhà chính trị gia đưa ra những thông điệp nhằm tìm kiếm người ủng hộ chính các nhà chính khách đó. Mạng xã hội đã giúp cho họ gần gũi với cư dân mạng qua các phản hồi, những mong muốn trong cuộc sống, xã hội, kinh tế,. Đó cũng là một loại truyền thông có hiệu ứng tốt trong cộng đồng dân cư có sừ dụng mạng xã hội. Nhóm tác giả Al-Lami, Mina, Hoskins, Andrew ang O’Loughlin Ben (2012) đã nghiên cứu Huy dộng và bạo lực trong các hệ sinh thái phương tiện truyền thông mới trường hợp ở the Dua Khailil Aswad và Camilia Shehata là một trong những nghiên cứu chống khủng bố.
Bên cạnh đó sự hợp tác của các trường như Đại học Nghiên cứu Thông tin và Giáo dục, Đại học Maryland ở Hoa Kỳ (2012) đã viết về những kinh nghiệm của thanh thiếu niên với các trang mạng xã hội: mối quan hệ đê chuyên tiếp và sự ràng buộc liên đới xã hội. Dựa trên thuyết Liên đới xã hội cho thấy việc kết bạn đó là một sự tích luỹ lợi ích, như hỗ trợ xã hội và tình cảm, giữa các thành viên tham gia trong mạng xã hội bằng cách tiết lộ thông tin về bản thân trên hồ sơ của họ hoặc bình luận trên các trang của bạn bè. Cập nhật trạng thái, bài viết trên tường và hình ảnh trên một hồ sơ mô tả hàng ngày của một cá nhân hoặc mạng lưới của mình. Ngoài ra, khi bạn viết thư cho nhau, chơi trò chơi, hoặc nhận xét trên hồ sơ của nhau, chẳng hạn như tự công bố thông tin và thông tin liên lạc trên mạng đế xây dựng mối quan hệ.
(3) Các nhà tâm lý cũng đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến giới trẻ trong nhiều năm qua. Nhóm tác giả Backstrom, MD, Stpfer, JM, Vazire, s Gaddis, s., Schmukle, sc, Egloff, B., và Gosling, SD (2010) với nghiên cứu Facebook hồ sơ phản ánh tính cách thực tế, không tự lý tưởng hoá. Sau đó, nhóm tác giả Thomas V. Dunbar (2011) đã nghiên cứu Sử dụng mạng xã hội và thư điện tử làm mất đi moi quan hệ xã hội thực của Đại học Groningen ở Hà Lan.
Tác giả Gennaro D’Amato (2012) trường Đại học Naples ở Italy đã nghiên cứu Mạng xã hội: Một nguồn gốc mới làm này sinh stress tâm lý hay con đường làm tăng lên lòng tự trọng? Khắng định và phủ định tội ác ở Bronchial Asthma. Asnat Dor & Dana Weimann-Saks (2012), trường Cao đẳng học viện Kinnerer tại Israel đã nghiên cứu Việc sử dụng mạng xã hội ở học sinh: thái độ, hành vi và nhận thức. Nghiên cứu đã phân tích nhóm học sinh 13 tuổi ở Israel. Các phân tích đi sâu vào các khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày của học sinh ở gia đình và ở trường.
Giữa mối quan hệ cha mẹ con cái, và việc sử dụng mạng xã hội trước hay sau cha mẹ và thường thì chúng được ưu tiên sử dụng máy tính gia đình như một công cụ hỗ trợ học tập đắc lực. Nhưng phần lớn nhóm học sinh này sứ dụng máy tính để sử dụng mạng xã hội để kết bạn, lập nhóm hội,. 9 Trong đó nghiên cứu sự quan sát của cha mẹ học sinh với hành vi, thái độ và nhận thức của học sinh. Brubaker (2013), Đại học Liberty ở Lynchburg, Mỹ đã nghiên cứu Moi quan hệ giữa facebook và thành tích học tập.
Nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ giữa facebook và thành tích học tập của học sinh cấp hai độ có sự tương quan lẫn nhau, học sinh được tiếp cận facebook trên hai bình diện tích cực và tiêu cực, sự ảnh hưởng của facebook đã thấm sâu vào tâm trí các em, nó trở nên là một liều thuốc xoa dịu những ức chế được dồn nén và tác động trực tiếp đến học tập tốt hay sa sút. Monika Cenanmeri (2013), Đại học Rome đã nghiên cứu Internet, sự phát triển xã hội trẻ em và thanh thiểu niên. Nghiên cứu chỉ ra internet phát triển mạnh mẽ như ngày nay, kèm theo khoa học công nghệ càng hiện đại, các thiết bị di dộng được kết nối internet, trên đó tác động trực tiếp đến trẻ em và thanh thiếu niên ngày nay. Kết quả thống kê cho thấy có 77% trẻ em từ 13 - 16 tuổi và 38% trẻ em từ 9 đến 12 tuổi ở Châu Âu đều có sử dụng mobile để kết nối internet.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Thời đại thông tin ngày nay đã tạo những điều kiện và cơ hội cho con người giao lưu, liên kết, chia sẻ những sở thích, sự quan tâm, những ý tường, những việc làm bằng các phương tiện truyền thông hiện đại - nhất là sự phát triển ngày càng đa dạng của internet, trong do có các mạng xã hội. Rob Hurle (1991), Giáo sư Đại học Quốc gia Australia và du học sinh Việt Nam, họ đã nhận thấy cần phải có internet ở Việt Nam, vì thế họ đã mang cục mordem về Viện Công Nghệ Thông Tin (IO1T) tại Phú Thọ để thí nghiệm kết nối các máy tính ở Australia và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại [41], Tại IOIT Phú Thọ (1992) có hộp thư điện tử riêng với “đuôi” “ở tận úc (.