phần mở đầu, 2 chương, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 1. Các khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục kỹ năng sống của Vụ giáo dục thể chất mà chủ biên là Giáo sư Nguyễn Võ Kỳ Anh: “ Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày” [1, tr.
Định nghĩa vừa nêu trên cũng tương đồng với định nghĩa về kỹ năng sống của Tổ chức Y tế thế giới WHO: “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và những hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”[1,tr37].Nói một cách rõ nghĩa, kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng được rèn luyện hoặc kinh nghiệm thực tế được sử dụng để xử lý những vấn đề trong cuộc sống. Và nó được chia ra hai phần là kỹ năng tư duy và kỹ năng ứng xử như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định và giải quyết vấn đề, ứng phó với các tình huống, biết cảm thông, giao tiếp ứng xử hiệu quả, thuyết trình, thương thuyết… Kỹ năng sống được coi trọng vì nó có tác dụng lớn trong hình thành tư duy, nhân cách của mỗi người. Đó là thái độ sống, giá trị sống căn bản, như sống trung thực, can đảm đối mặt với sự thật, biết thương yêu và biết cách vượt lên nghịch cảnh. Với học sinh, khi các em có cơ hội rèn luyện kỹ năng sống, biết ứng biến tích cực với mọi tình huống xảy ra, biết cách đối diện và đương đầu, vượt qua được những khó khăn, hạn chế những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực, các em sẽ được rèn luyện, phát triển tính cách tự chủ, tự tin vào bản thân, tinh Luan van 13 thần trách nhiệm cùng khả năng diễn đạt, thuyết phục, thói quen chia sẻ, giúp đỡ người khác.
Đó chính là những yếu tố quan trọng giúp cho các em đạt được thành công trong giai đoạn nền tảng của cuộc đời. Như vậy, có thể hiểu kỹ năng sống là năng lực ứng xử tích cực của mỗi người đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy của chính mình. Hiện nay người ta quan niệm khác nhau về kỹ năng sống, chưa có một khái niệm duy nhất được tất cả mọi người công nhận. Tuy nhiên, có người cho rằng kỹ năng sống là khả năng tâm lý xã hội của mỗi người được thể hiện ở hành vi tích cực trong việc xử lý hiệu quả các đòi hỏi, thử thách của cuộc sống hàng ngày.
Theo UNICEF, “Kỹ năng sống là tập hợp nhiều tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ kỹ năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh”. Theo UNESCO, kỹ năng sống được thể hiện ở bốn trụ cột: Học để biết, học để làm việc, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Từ những quan niệm nêu trên và qua nghiên cứu, xem xét vấn đề này, chúng ta có thể hiểu: Kỹ ă số àk ả ă của c â đ ợc t ể ệ tro v ệc ả qu t c ệu quả ữ u cầu (cuộc số , ọc tậ , ao độ , ả trí…) và ữ t c t cd ra tro cuộc số .Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT Tiếp cận theo quá trình giáo dục, thì quá trình giáo dục kỹ năng sống là một quá trình có mục đích, có tổ chức; thông qua mối quan hệ thống nhất biện Luan van 14 chứng giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, nhằm đạt tới các mục tiêu giáo dục kỹ năng sống đề ra.
Việc giáo dục kỹ năng sống phải được tiến hành theo phương thức tương tác, thông qua các tình huống, kể cả trải nghiệm thực tế, không thể là những bài học lý thuyết thông thường. Như vậy, đòi hỏi đối với giáo viên phải được trang bị và thực hành thành thạo các phương pháp dạy kỹ năng sống, gần gũi, thân thiện với học sinh và còn cần có vốn sống phong phú, những trải nghiệm qua thử thách trên đường đời, và trên hết phải có tấm lòng nhân hậu. Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông bao gồm nhiều nhân tố khác nhau, từ mục tiêu GD đến nhà GD, đối tượng GD, nội dung GD, phương pháp GD, hình thức tổ chức GD , phương tiện GD, kết quả GD. Các nhân tố đó quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng, thúc đẩy lẫn nhau, trong đó có hai nhân tố mang tính chủ thể năng động, chính là nhà GD và đối tượng GD.
Như vậy, có thể hiểu: Qu trì o dục kỹ ă số c o ọc s h THPT là quá trình có ục đíc , c tổ c c, ố ợ t ố ất ữa à o dục vớ đố t ợ o dục, t ô qua đ tạo đ ều k ệ c o ọc s ọc tậ và trả ệ c c tì uố k c au, ằ ú c oc â c đ ợc k ả ă ả qu t c ệu quả ữ t c t c, ệ vụ, đ ục t u o dục đã x c đị .Quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông ở Quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh Do đặc điểm của xã hội hiện nay, nên sự hình thành và phát triển kỹ năng sống trở thành một yêu cầu quan trọng đối với cá nhân và đáp ứng tiêu chí về nhân cách con người hiện đại. Hội nghị giáo dục thế giới họp tại Senegan tháng 4 năm 2000 đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người (Kế hoạch hành động Dakar) gồm sáu mục tiêu lớn. Trong đó, ba Luan van 15 mục tiêu đã vạch ra rằng: “Đảm bảo nhu cầu học tập của tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kỹ năng sống thích hợp”. Song, để tiến hành tốt việc giáo dục kỹ năng sống cho lớp trẻ hiện nay thì không thể thiếu công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục kỹ năng sống nói riêng.
Quản lý giáo dục cũng như quản lý xã hội nói chung, đó là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích đã xác định. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái về mới về chất” [16, tr. Với ý nghĩa đó, quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chính là thực hiện tốt các chức năng của quản lý, từ khâu kế hoạch hóa đến các khâu khác như tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, kiểm soát nhằm tạo ra điều kiện, môi trường thuận lợi nhất cho việc hình thành, phát triển các kỹ năng sống cho học sinh. Quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, đó chính là những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các nhân tố của quá trình giáo dục, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu hình thành và phát triển kỹ năng sống cho họ.
Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: Quả qu trì o dục kỹ ă số c o ọc s THPT à s tổ c c, đ ều k ể ột c c k oa ọc của c ủ t ể quả à tr ờ đố vớ toà bộ qu trì o dục kỹ ă số c o ọc s , ằ đả bảo c o qu trì à đạt đ ợc ệu quả, đ ục tiêu o dục à à tr ờ đã x c đị. Nội dung quản lý quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT ở Quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh hiện nay 1. Quản lý chủ thể giáo dục Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo quản lý quá trình quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là: Ban Giám hiệu Nhà trường, giáo viên, ban cán sự lớp. Trong đó đảng uỷ, ban giám hiệu, giáo viên, ban cán sự lớp là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý quá trình quản lý giáo dục kỹ năng sống.
Chủ thể hướng dẫn chỉ đạo quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh gồm các cơ quan chức năng, văn phòng đây là những cơ quan tham mưu cho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường và trực tiếp chỉ đạo các hoạt động quản lý quá trình quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Chủ thể trực tiếp giáo dục kỹ năng sống là đội ngũ giáo viên mà trước hết là giáo viên chủ nhiệm lớp. Do đó họ có vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học. Ngoài ra, còn có các tổ chức quần chúng như: Đoàn thanh niên, Công đoàn;.
tham gia giáo dục kỹ năng sống. Quản lý đối tượng giáo dục Học sinh vừa là đối tượng giáo dục, đối tượng bị quản lý, vừa là chủ thể tự giáo dục. Quản lý đối tượng giáo dục kỹ năng sống, chính là quản lý quá trình học tập và rèn luyện, hình thành, phát triển kỹ năng sống của học sinh. Học sinh và tập thể học sinh vừa là khách thể tiếp nhận các tác động giáo dục, chịu sự điều khiển chi phối bởi mục tiêu và sự tác động thông qua các phương pháp, hình thức và các tác động khác của nhà giáo dục, lại vừa là chủ thể tự tổ chức, tự chỉ đạo quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng sống của chính mình.