Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về kĩ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống Thuật ngữ “Kỹ năng sống” xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) vào những năm 90 của thế kỉ XX. Tổ chức này quan niệm “Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có hướng đích”.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO): “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì quan niệm: “Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống”. Thuật ngữ “Kỹ năng sống” lần đầu được biết đến ở Việt Nam từ những năm 1995, qua dự án của UNICEF phối hợp với Bộ GD&ĐT cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam với chương trình: “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Khái niệm về KNS được làm rõ hơn tại Việt Nam do UNESCO phối hợp với Viện Khoa học giáo dục Việt Nam với Hội thảo “Chất lượng giáo dục và Kỹ năng sống” vào năm 2003.
Năm học 2003-2004, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp UNESCO triển khai nghiên cứu về “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” đã trình bày một cách tổng quan về nhận thức, thực trạng và định hướng giáo dục KNS ở Việt Nam. Năm 2005, một số tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên quan đến giáo dục KNS trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Năm học 2010-2011, Bộ GD&ĐT đã có công văn về việc tăng cường thực hiện giáo dục KNS trong tất cả các bậc học và đã cho phép xuất bản bộ tài liệu tích hợp giáo dục KNS qua các môn học. 6 Đối với bậc học mầm non quy định, hoạt động giáo dục giúp người học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực[1].
Ngày 31 tháng 12 năm 2020 Bộ GD&ĐT đã triển khai Thông tư 52/TT- BGDĐT hướng dẫn việc tổ chức giáo dục KNS tại các cơ sở GDMN, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, trong đó xác định nội dung đối với trẻ mầm non: “Giúp trẻ nhận thức về bản thân như tự tin, tự lực, thực hiện những quy tắc an toàn thông thường, biết làm một số việc đơn giản; hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia sẻ, hợp tác, kiên trì, vượt khó; hình thành một số kỹ năng ứng xử phù hợp với gia đình, cộng đồng, bạn bè và môi trường”[4]. Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Trong giáo trình “Giáo dục kỹ năng sống” (2013), tác giả đã triển khai nghiên cứu tổng quan về KNS, các phương pháp tiếp cận KNS trong giáo dục ở nhà trường phổ thông, đồng thời đề xuất một số chủ đề giáo dục KNS cho học sinh phổ thông[1]. Tác giả Nguyễn Công Khanh (2012), trong cuốn “Phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống” đã nghiên cứu về đổi mới, đa dạng hóa phương pháp giáo dục và phát triển KNS đáp ứng nhu cầu, hứng thú, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh, sưu tầm các câu chuyện ẩn chứa trong đó các triết lý, các bài học giáo dục KNS…[22].
Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đến quản lý giáo dục KNS cho học sinh làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lý giáo dục. Tác giả Lương Thị Hằng (2010) với đề tài luận văn quản lý giáo dục:“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường trung học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”. Tác giả Lê Anh Tuấn (2012) với đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Thạch Thất, Hà Nội”; Lương Thị Hồng Điệp (2015), “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non quận 4, thành phố Hồ Chí Minh”; Vũ Vương Kiều Hoa 7 (2016), “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”… 1. Nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm Vấn đề phát triển con người toàn diện luôn được sự quan tâm của các nhà giáo dục nổi tiếng trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử.
Đó là các quan điểm giáo dục của Thomas More, J. Comenxki, Petxtalogi, Robert Owen… Song quan điểm con người phát triển toàn diện thực sự được nghiên cứu một cách khoa học từ khi thuyết học giáo dục Mác -xit ra đời. Học thuyết giáo dục của C. Ăng ghen là một bộ phận của chủ nghĩa cộng sản khoa học, nó được hoàn thiện dần bằng tư tưởng giáo dục vĩ đại của V.Lênin, cống hiến xuất sắc của N.Makarenco và các nhà giáo dục học Xô viết khác.
Nhiều nhà giáo dục ở trên thế giới như Anh, Mỹ, Nhật Bản. đã khẳng định rằng các hoạt động trải nghiệm nhằm giúp học sinh gắn kiến thức với thực tiễn. Họ xem các hoạt động này là một phần vô cùng quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Họ đã có những công trình nghiên cứu và khẳng định về vấn đề này.Thời kỳ Phục hung,nhà tư tưởng nhà giáo dục Rabole (1494– 1553) nhấn mạnh: “Việc giáo dục phải bao hàm các nội dung trí dục, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ .ngoài việc học ở nhà còn có các buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày” [41,tr.
Makarenco một nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga khẳng định:“Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải trên từng mét vuông đất của đất nước ta. nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp” (41, tr. Cơrupxkaia (1869 - 1939) đã nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội. Bà đánh giá cao vai trò hoạt động của Đoàn thanh niên, của Đội thiếu 8 niên, qua các hoạt động ngoài trường, ngoài lớp.
Bà cho rằng: "Qua hoạt động thực tiễn thế hệ trẻ được tự giáo dục, qua đó mà hình thành và phát triển nhân cách của người lao động mai sau". Theo John Dewey (1859 – 1952), người đặt nền móng cho triết lý giáo dục Mỹ thì “trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con bài học kiến thức và bài học luân lý”[46]. Đề cao vai trò của trải nghiệm, J.Dewey cũng chỉ ra rằng, “những trải nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn”. Ở một số nước tiên tiến trên thế giới như nước Anh: “chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi học sinh ứng dụng nhiều tri thức, kỹ năng cho phép học sinh sáng tạo và tư duy, dám nghĩ, dámlàm”[11].
Hàn Quốc: “mục tiêu hoạt động trải nghiệm hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo” [11]. Giáo dục Nhật Bản:“Chú trọng việc nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo”(45). Có thể thấy đây là những kinh nghiệm quý giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu mới. Ở Việt Nam tư tưởng giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh và của Đảng ta là kim chỉ nam cho việc phát triển giáo dục.
Để chỉ rõ phương pháp đào tạo nên những người tài đức, thì ngay trong thời kì đầu của nền giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội!”. Đến năm học 2013 - 2014 Bộ Giáo dục đã định hướng các trường phổ thông thực hiện các HĐTN trong hoạt động dạy học và giáo dục. 9 Hoạt động trải nghiệm sẽ là môi trường để giúp học sinh trải nghiệm tất cả những gì được học từ các môn học, chủ đề hay lĩnh vực, giúp vận dụng kiến thức có được từ nhà trường vào thực tiễn cuộc sống và cũng thông qua đó, những năng lực gắn với cuộc sống được hình thành. Nói cách khác là: “Đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống”[4].
Hiện tại đã có khá nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến hoạt động trải nghiệm nói chung và hoạt động trải nghiệm trong nhà trường nói riêng như: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” của tác giả Đỗ Ngọc Thống [40, tr. Hoạt động TN sáng tạo - Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa [39, tr. Trong bài nghiên cứu có nhan đề “Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo” tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã chỉ ra để phát triển chương trình HĐTN, giáo dục trải nghiệm cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra[38]. Theo đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa vừa được Quốc hội khóa XII, kì họp thứ 8 thông qua thì từ năm 2015, công tác biên soạn chương trình, sách giáo khoa chính thức khởi động.
Sách giáo khoa đã nhấn mạnh yếu tố giảm kiến thức, tăng các HĐTN cho học sinh. Trong các bài viết gần đây, nhiều tác giả tập trung làm sáng tỏ các vấn đề về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức và phân tích điểm mạnh, cách triển khai, tổ chức các HĐTN sáng tạo của các nước trên thế giới, đề xuất biện pháp vận dụng tại Việt Nam [14; 36; 34].