CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HỌC SINH CHƯA NGOAN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Lịch sử phát triển giáo dục luôn gắn với lịch sử phát triển xã hội loài người. Giáo dục là đào tạo con người, tạo ra những con người có đầy đủ năng lực, phẩm chất và trí tuệ đáp ứng với yêu cầu của thời đại, xã hội càng phát triển kéo theo nhiều giá trị đạo đức của con người cũng thay đổi.
Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, cùng với sự du nhập của nhiều nền văn hóa thế giới thì trong trường học hiện tượng “học sinh chưa ngoan”, vẫn còn nhiều. Giáo dục học sinh chưa ngoan là giáo dục về kiến thức đạo đức căn bản, tối thiểu cần thiết để ngăn chặn các nhận thức về hành vi sai lệch trái với chuẩn mực đạo đức. Giáo dục đạo đức cho học sinh hay giáo dục học sinh chưa ngoan đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Các vấn đề về đạo đức được các nhà nghiên cứu từ những năm trước công nguyên trong đó phải kể đến những nhà nghiên cứu lỗi lạc như: Khổng Tử (551 - 479 TCN) đề cao đường lối đức trị và lễ trị quốc dân an, phát triển đất nước); Socrates (470 - 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện hay Aristoste (384 - 322 TCN) cho rằng thượng để không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Đến thế kỷ XIX, nhà nghiên cứu Petxtalôdi (1746 - 1827) đã đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đạo đức và cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người [28]. Tuy nhiên, chính Mác - Ănghen - Lênin đặt nền móng và xây dựng học thuyết về đạo đức và giáo dục đạo đức. Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định nguồn gốc sâu xa của đạo đức chính là đời sống lao động và mỗi bản thân con người. Hiện tượng chịu sự tác động của nguyên nhân kinh tế và xã hội, khẳng định nền kinh tế xã hội, xét đến cùng quyết định đặc trưng cơ bản của đạo đức và nội dung chủ yếu của nó.
Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã lần đầu tiên đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình) hay nói cách khác giáo dục trẻ em hư. Những đóng góp của Macarenco về giáo dục trẻ em hư rất to lớn, được thể hiện ở luận điểm “xem sự phụ thuộc tâm lý và hành vi của nhân cách vào điều kiện sống là cơ sở của phương pháp giáo dục lại” [18]. Các nghiên cứu ở trong nước Vấn đề giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam cũng được các nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu, từ những nghiên cứu cơ bản như “Đạo đức học” và tác phẩm “Rèn luyện đạo đức công dân” của Phạm Khắc Chương đến các nghiên cứu ứng dụng và chuyên sâu vào lĩnh vực giáo dục trẻ chưa ngoan như Phương pháp giáo dục cho trẻ em hư của Phạm Công Sơn, Tô Quốc Tuấn (1997), Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ em chưa ngoan và trẻ em phạm pháp tại TP.
Hồ Chí Minh” và “muốn trẻ hư trở thành công dân tốt”, tác giả Đặng Vũ Hoạt với “Cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình giáo dục lại học sinh hư, học sinh phạm pháp”, Nguyễn Thị Vui (2017) với nghiên cứu Quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục; Nghiên cứu của Lê Duy Hùng (2013), Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông - Thực trạng và giải pháp [14], [29]. Tại Hội thảo “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp” được tổ chức năm 2009, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Yếu tố quyết định là ý thức tự giáo dục thực sự nghiêm khắc - sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất là của học sinh các lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên,.kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội, GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội” [15]. Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tất Dong với đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội dung mới về giáo dục đạo đức, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu 1990. Về góc độ quản lý, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đưa ra các mô hình quản lý giáo dục đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Tác giả Phạm Minh Hạc và các cộng sự trong nghiên cứu “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trình bày được mục tiêu giáo dục trong các nhà trường, trong đó có hệ thống các trường trung học cơ sở và đã cụ thể hóa được các hoạch định chiến lược giáo dục toàn cho học sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo con người phát triển toàn diện để phục vụ cho công cuộc xây dựng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và giúp cho nước ta trở thành một nước phát triển bền vững. Công trình này cũng khẳng định để đạt được hiệu quả trong việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức thì điều kiện then chốt, quyết định là cơ chế chỉ đạo thống nhất. Muốn vậy phải có một tổ chức phụ trách 7 từ Trung ương tới cơ sở, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, cần thiết phải thành lập một ủy ban quốc gia GDĐĐ để chỉ đạo, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho toàn xã hội [13]. Điểm chung của các nghiên cứu trên đã khái quát, phân tích các nội hàm bao gồm khái niệm HSCN, các dạng biểu hiện của HSCN, nguyên nhân dẫn đến tình trạng HSCN và đề xuất những biện pháp phù hợp với những học sinh này.
Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, đối với mỗi đối tượng học sinh ở cấp bậc, vùng miền hay các dạng biểu hiện khác nhau cần có những nghiên cứu cụ thể, riêng biệt; để từ đó mỗi nhà trường, những nhà quản lý giáo dục mới có những cách tiếp cận, những biện pháp giáo dục đạt hiệu quả tối ưu nhất. Tại thành phố Đà Nẵng, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng ban hành Chỉ thị số 24 - CT/TU, ngày 10/8/2009 và Quận ủy Liên Chiểu ban hành Chỉ thị số 19-CT/QU ngày 24/8/2009 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phối hợp giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học và thiếu niên hư, vi phạm pháp luật trên địa bàn thành phố đã được các ban, ngành, đoàn thể triển khai thực hiện [23]. Kết quả thực hiện hai chỉ thị: Các trường phổ thông (TH, THCS, THPT) đã tăng cường công tác quản lý và giáo dục học sinh; tham mưu và phối hợp với UBND phường, các ban ngành đoàn thể ở địa phương trong công tác giáo dục, tổ chức vận động học sinh bỏ học trong hè ra lớp ngay từ đầu năm học. Đã chú trọng giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh bỏ học; đẩy mạnh giáo dục đạo đức học sinh và coi đây là một nội dung quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện của các trường.
Trong tương lai, nghiên cứu có thể mở rộng phạm vi không gian nghiên cứu là quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Mặt khác, nghiên cứu cũng có thể nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS ở một địa phương cụ thể. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm rộng, gắn liền với hoạt động của con người rất đa dạng, phức tạp do vậy các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn: Theo quan niệm truyền thống quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu xác định.
Theo quan niệm hiện nay quản lý là những hoạt động nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu. “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, 8 xã hội, văn hoá, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. Từ các khái niệm trên, nhận thấy rằng: Quản lý bao giờ cũng là một tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; Quản lý luôn thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý); Quản lý là quản lý con người, là tác động mang tính chủ quan của con người nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; xét về mặt công nghệ thì quản lý chính là sự vận động của thông tin.
Vậy, quản lý là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu của tổ chức.