chương 1: Giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật đã đề cập đến khái niệm và bản chất của giáo dục hòa nhập; Chương 2: Dạy học hoà nhập cho trẻ khuyết tật đã trình bày những nguyên tắc cơ bản của dạy học hoà nhập, điều chỉnh chương trình dạy học phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tập, học hợp tác nhóm trong dạy học hoà nhập, thiết kế và tiến hành bài học hoà nhập có hiệu quả. Chương 3 Hỗ trợ giáo dục hoà nhập; Chương 4 đề cập đến giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thị; Chương 5 đề cập đến giáo dục hoà nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ; Chương 6 đề cập đến giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thính [9]. Nghiên cứu về quản lý giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật Trong bài viết Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường mầm non quận 3, thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Thị Mỹ Dung đã đánh giá thực trạng Hiệu trưởng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường mầm non quận 3, thành phố Hồ Chí Minh như thực trạng lập kế hoạch, tổ chức hoạt động, chỉ đạo hoạt động, kiểm tra và đánh giá hoạt động, từ đó nhận thấy một số hạn chế: Việc lập kế hoạch chung trẻ khuyết tật với trẻ bình thường, chưa phân công công tác dạy riêng từng trẻ khuyết tật, chưa tiến hành kiểm tra phân công công tác dạy riêng từng trẻ khuyết tật…[6, tr. Trong bài viết Thực trạng của quản lí hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật ở các trường tiểu học quận 7, TP.
Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thụy Tố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Uyên đã tiến hành khảo sát việc thực hiện việc giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường: Kim Đồng, Phù Đổng, Phú Mỹ, Nguyễn Thị Định, Tân Thuận, Việt Úc, Sao Việt cho thấy bên cạnh những hoạt động đã thực hiện tương đối tốt, vẫn còn tồn tại một số nội dung quản lí hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật của hiệu trưởng các trường tiểu học quận 7, TP. Hồ Chí Minh thực hiện chưa tốt, đó là: Lập kế hoạch tìm hiểu khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật học hòa nhập; xác định khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật học hòa nhập; chỉ đạo, chỉ dẫn, tập huấn để thực hiện tốt công tác giáo dục; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nội dung giáo dục cho trẻ khuyết tật. Do đó, trong thời gian tới, hiệu trưởng các trường này cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp quản lí sau: 1) Tăng cường việc lập kế hoạch hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật, chú ý quán triệt mục tiêu hoạt động GDHN và mục tiêu quản lí hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật; 2) Thực hiện tốt việc phân công nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các thành viên trong thực hiện các nội dung GDHN cho trẻ khuyết tật; 3) Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ về GDHN cho giáo viên để thực hiện tốt việc chỉ đạo thực hiện các nội dung GDHN; 4) Thường xuyên kiểm tra, đánh giá thực hiện hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật, chú ý đến việc điều chỉnh kế hoạch sau khi kiểm tra; 5) Tạo ra môi trường, điều kiện học tập và phát triển tốt nhất cho trẻ khuyết tật [20, tr 12-16 ]. Trong đề tài Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tăng động trong trường mầm non hòa nhập của tác giả Phạm Thị Thơm đã đề cập đến nội dung quản lý giáo dục hòa nhập trong trường mầm non như: Lập kế hoạch; Quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung và điều chỉnh chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tăng động; Tổ chức các hoạt động dạy học cho trẻ tăng động trong trường mầm non.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đã đưa ra các biện pháp và tổ chức thực nghiệm các biện pháp tại trường mầm non hòa nhập [16]. Nguyễn Thị Lan Anh trong đề tài Quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nộiđã đề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cập đến hoạt động giáo dục hòa nhập trong trường mầm non, quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập trong trường mầm non. Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất một số giải pháp như: Chỉ đạo các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong cộng đồng và nhà trường; Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật trong trường mầm non; Nâng cao công tác quản lý tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong trường mầm non…[1]. Giáo trình Quản lý giáo dục hòa nhập đã phân tích cơ sở lý luận của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và các mô hình giáo dục, trong đó có các loại hình trường lớp dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, các mô hình giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên thế giới và ở Việt Nam, cuốn sách cung cấp các nội dung và hình thức điều chỉnh trong dạy học hòa nhập cho HS khuyết tật [8].
Như vậy, từ các nghiên cứu trên cho thấy: Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến công tác giáo dục hoà nhập học sinh khuyết tật thông qua hoạt động giáo dục tại các trường THCS và quản lý giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật thông qua hoạt động giáo dục tại trường THCS. Vì vậy, nếu nghiên cứu và đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật thông qua hoạt động giáo dục ở trường THCS sẽ có ý nghĩa rất to lớn. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Nhà nghiên cứu về quản lý nổi tiếng thế giới Harold Koontz cho rằng “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” [dẫn theo (1, tr.
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [dẫn theo (1, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì vậy, quản lý là một quá trình định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định. Quản lý giáo dục Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục” [2]. Phạm Minh Hạc cho rằng“Quản lý giáo dục là quá trình quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [7].
Vì vậy, quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục được thực hiện bởi giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà trường. Học sinh khuyết tật - Khuyết tật: Những thuật ngữ “tàn tật”, khiếm khuyết“, “khuyết tật”, “tật nguyền” …thường được dùng với những mục đích khác nhau, trong những trường hợp khác nhau. Cho dù dùng thuật ngữ nào thì “bản chất khuyết tật là những tổn thương thực thể hoặc sự suy giảm chức năng của cơ thể dẫn đến những hậu quả không tránh khỏi làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ thể” [21]. UNESCO định nghĩa “khuyết tật là hiện tượng đa chiều gây ra tác động qua lại giữa con người và môi trường” [21].
Theo Số: 23/2006/QĐ-BGDĐT, Quyết định Quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật, tại điều 2. Người khuyết tật quy định: Người khuyết tật, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động gặp nhiều khó khăn [5]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật số 51/2010/QH12 của Quốc hội: Luật người khuyết tật, tại Điều đã giải thích “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [12]. Phân loại khuyết tật căn cứ vào ba yếu tố cơ bản: - Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể hoặc sự suy giảm các chức năng.
- Những hạn chế trong hoạt động của cá thể khuyết tật gây nên. - Môi trường sống có điều kiện thuận lợi hay tạo ra những rào cản làm ảnh hưởng đến sự tham gia đầy đủ và có hiệu quả các hoạt động của người khuyết tật. Như vậy, học sinh khuyết tật là người dưới 18 tuổi bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. - Học sinh khuyết tật trí tuệ: Ngày 10/04/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 28/2012/NĐ- CP hướng dẫn Luật người khuyết tật.
Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật người khuyết tật về dạng tật, mức độ khuyết tật và xác định mức độ khuyết tật; chính sách xã hội hóa trợ giúp người khuyết tật nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên, sản xuất trang thiết bị dành cho người khuyết tật; chế độ phụ cấp và chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật,. Định nghĩa khuyết tật trí tuệ được quy định tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định 28/2012/NĐ-CP, theo đó: Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc.