Phần mở đầu Phần 2: Nội dung nghiên cứu 4 z Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh Trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh trường Trung học cơ sở Dương Quang huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh trường Trung học cơ sở Dương Quang huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên. Phần3: Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG, KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1.
Các công trình nghiên cứu về giá trị sống Từ xa xưa đến nay vấn đề giáo dục GTS, KNS được quan tâm đặc biệt, giáo dục giá trị được xem là một nhân tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các tác giả từ thời cổ đại như Khổng Tử tới các tác giả cận đại như, V.Tugarinov [34] Tsnunesaburo Makiguchi (1871 – 1945) [39]… Khổng Tử là nhà triết học, nhà chính trị nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại cho rằng ai làm được “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ” người đó có đức nhân”. Con người cần hướng tới cả năm đức: “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, còn gọi là Ngũ thường, tức là năm đạo đức cơ bản của con người. Khổng Tử rất đề cao đức, “nhân”, ông đã đưa nhân lên thành đức mục cao nhất, coi đó là đích của tự tu dưỡng.
[44] Kohlberg là nhà triết học đạo đức, nhà tâm lý học, và là nhà giáo dục học người Mỹ. Là nhà tâm lý học, nhà giáo dục học ông nghiên cứu quá trình phát triển tâm lý của trẻ em và người lớn, tìm cách vận dụng chúng vào thực tiễn. Là nhà đạo đức học, ông nghiên cứu quá trình nhận thức đánh giá đạo đức của con người. Quá trình này được trình bày trong tác phẩm “Triết học về sự phát triển đạo đức” [18] Với sự hợp tác nghiên cứu của các nhà giáo dục trên thế giới UNESCO đã đưa ra chương trình giáo dục giá trị sống với 12 giá trị cốt lõi đó là: “Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Yêu thương, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung, Đoàn kết,” được tiến hành tại một số nước trên thế giới.
Ở các nước Đông Nam Á trẻ em cũng được triển khai học tập GTS và là đối tượng nghiên cứu thành công có tính khoa học, hệ thống và tiêu biểu cho giáo dục nhân cách con người. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia luôn coi trọng phát triển nền GD nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực. Giáo dục kỹ năng sống còn gọi là “Giáo dục dựa trên kỹ năng 6 z sống” đã có lịch sử hơn 2 thập kỷ, ban đầu có mục tiêu hỗ trợ sự phát triển, tăng cường sức khoẻ cho trẻ em. Năm 1986, bản Hiến chương Ottawa vì tăng cường sức khoẻ nhận ra kỹ năng sống làm cho sức khoẻ trẻ em được cải thiện tốt hơn.
Năm 1986, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) liên kết kỹ năng sống với giáo dục hướng tới sự phát triển mọi tiềm năng của trẻ em. Năm 2000, Hội nghị Thế giới về Giáo dục ở Dakar đề nghị tất cả trẻ em và người lớn đều có quyền lợi từ “một nền giáo dục, trong đó bao gồm việc học để biết, để làm, để sống cùng nhau và để tồn tại”, và đưa các KNS vào mục tiêu Giáo dục cho mọi người (EFA Goals). Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó có 2 mục tiêu liên quan trực tiếp tới giáo dục dựa trên KNS, đó là mục tiêu 3: Khẳng định rằng nhu cầu học tập của tất cả già, trẻ đều được đáp ứng một cách công bằng thông qua chương trình học tập và giáo dục kỹ năng sống phù hợp. Mục tiêu 6: Tăng cường chất lượng giáo dục ở mọi lĩnh vực, và khẳng định rằng mọi người đều nhận thức được các mục tiêu học tập và đạt được mục tiêu dưới dạng đo lường được, đặc biệt trong việc học chữ, tính toán và những kỹ năng sống thiết yếu cơ bản.
Hiện nay, giáo dục KNS được nhận thức như một phương pháp nhằm phát triển năng lực cho thanh thiếu niên và hưởng ứng các chủ đề của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (2001), Trẻ em (2002), Báo cáo Tuổi trẻ thế giới (2003), Chương trình Thế giới về Giáo dục Quyền con người (2004), Thập kỷ Liên Hợp Quốc vì Giáo dục vì Phát triển Bền vững (2005), Nghiên cứu của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về bạo lực Trẻ em (2006). Tóm lại, qua nghiên cứu các tác giả đã thấy được tầm quan trọng của KNS và sự cần thiết phải giáo dục KNS. Và các tác giả cũng chỉ ra các KNS quan trọng như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng lãnh đạo. Bên cạnh đó, họ cũng xây dựng dựng công cụ đo lường KNS tuy nhiên những công cụ đó chưa đánh giá được mức độ KNS cụ thể.
Ở trong nước Từ xa xưa đến nay vấn đề giáo dục GTS, KNS được quan tâm đặc biệt, giáo dục giá trị được xem là một nhân tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các tác giả từ thời cổ đại như Khổng Tử tới các tác giả cận đại như, V.Tugarinov 7 z [34] Tsnunesaburo Makiguchi (1871 – 1945) [39]… Trong cuốn “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh phổ thông”, (2010) tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã định hướng những giá trị cần trang bị cho học sinh phổ thông. Đó là những giá trị cốt lõi để rèn luyện nhân cách có phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại được các nhà trường sử dụng để dạy cho học sinh. [34] Nghiên cứu về GTS và giáo dục KNS cho học sinh THCS ở Việt Nam nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh: “Giáo dục Giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THCS”, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011 đã khái quát những vấn đề về GTS và đưa ra các kỹ năng cụ thể cần thiết cho học sinh THCS dựa trên nghiên cứu về tâm sinh lý lứa tuổi.
Cuốn sách là tài liệu thiết thực đối với công tác giáo dục GTS, KNS cho các trường THCS hiện nay. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các tác giả đã thiết kế các hoạt động giáo dục GTS,KNS theo chủ đề nhằm nâng cao những phẩm chất nhân cách của HS, phát triển toàn diện cả thể chất và tâm hồn. [34] Tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với các nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo và các bài báo khoa học, các đề tài đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở Việt Nam.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý xuất hiện khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ. Quản lý như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung. Có nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”.
Theo sự phân tích của Mác thì “Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lý”. Mary Parker Follert đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”. Theo tác giả Nguyễn Kỳ, Bùi Trọng Tuân thì quản lý là : - Chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động. 8 z - Duy trì sự hoạt động của hệ thống phải kể đến sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó: Quản lý được hiểu là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Hoạt động của quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. [33] Như vậy có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, thông qua cơ chế quản lý, nhằm đạt được mục đích của quản lý. Nhìn chung các định nghĩa đều thể hiện được nét cơ bản của thuật ngữ “Quản lý” : - Quản lý là một hoạt động luôn có trong quá trình lao động xã hội. Lao động quản là điều kiện quan trọng làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển.
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một hệ thống xã hội. - Quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. - Quá trình quản lý bao gồm sự phối hợp của các yếu tố: Con người, thời gian, công việc, tiền tệ, máy móc, công nghệ, nguồn nguyên vật liệu. - Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.
Bởi thế trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý, người cán bộ quản lý phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức một cách khoa học nhằm đạt được mục đích đề ra của tổ chức. Quản lý giáo dục Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.