CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Trong lịch sử phát triển của xã hội đạo đức luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Song hành cùng sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học công nghệ, đồng thời nó giúp nhân loại xích lại gần nhau hơn, hòa nhập giải quyết những vấn đề toàn cầu, đưa xã hội loài người tiến cao hơn.
Chính vì vậy, trong lịch sử rất nhiều người quan tâm nghiên cứu đạo đức, để góp phần hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trong lịch sử phát triển của xã hội, đã có nhiều nhà nghiên cứu khác nhau và đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức, GDĐĐ, quản lý GDĐĐ: Ở phương Tây, Aristote (384 – 322 TCN), Nhà bác học Hy Lạp thời thượng cổ đã nói câu chí lý: Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức. không có đạo đức, tri thức sẽ khó thành đạt. Xixêrô nói: Triết lý về đạo đức là sự chuẩn bị tư duy để tiếp nhận hạt giống trí tuệ [26, tr.
Thời Hy Lạp – La Mã cổ đại, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) cho rằng, cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức , theo Socracte con người phải tự ý thức, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp khoa học nhận thức [5, tr. Ở phương Đông, thời cổ đại, nhà hiền triết của Trung Quốc là Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã xây dựng một xã hội dựa trên học thuyết “Nhân – Lễ – Chính danh”.
Trong đó, “Nhân” (lòng thương người) là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản của con người. Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, ông 6 cha ta đã đưa ra câu nói nổi tiếng “Tiên học lễ, hậu học văn” cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị đối với nhiều nền giáo dục trên thế giới [5, tr. Thế kỉ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Liên Xô (cũ) cũng có nhiều nghiên cứu về GDĐĐ cho học sinh như: A.A Xukhomlinxky,… Những nghiên cứu mới của họ đã đặt nền móng cho việc GDĐĐ học sinh tạo ra những con người mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô. Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
Tư tưởng giáo dục của Người có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển thời đại mới. Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng ở mỗi người là kết quả của sự rèn luyện trong thực tế, trong đấu tranh một cách bền bỉ, thường xuyên. Người căn dặn: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [15].
Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăn lo GDĐĐ cách mạng cho doàn viên, thanh niên, học sinh thành những người vừa “hồng”, vừa “chuyên” thừa kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này. Thời gian qua, vấn đề đạo đức, GDĐĐ và quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đặt biệt quan tâm. Các công trình nghiên cứu có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này của các tác giả Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên, Hà Thế Ngữ, Phạm Hoàng Gia, Phạm Khắc Chương, Vũ Trọng Dung, Đặng Quốc Bảo, Hà Nhật Thăng,… Trong đó, có thể kể: “Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin” của Vũ Trọng Dung (chủ biên), 2006; “Giáo dục đạo đức trong nhà trường” của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1988; “Giáo trình đạo đức học” của Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, 2001; “ Quản lý trường học” của Vũ Khiêu (chủ biên), 1974; “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” của Hà Nhật Thăng, 1998; “ Quản lý trường học” của Hà Sĩ Hồ”, 1985; “Những vấn đề cơ bản về quản lý 7 giáo dục” của Đặng Quốc Bảo, 1998; “Những đặc trưng của quá trình quản lý giáo dục trong điều kiện hiện nay” của Trần Kiểm, 1988,… Có thể nói, các tác giả đã nghiên cứu về GDĐĐ với những cách tiếp cận khác nhau. Tác giả Phạm Minh Hạc và các cộng sự của ông đã nghiên cứu về sự phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã coi trọng về vấn đề đạo đức, GDĐĐ và các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong giai đoạn hiện nay [11].
Tác giả Hà Thế Ngữ đã đề cập đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh. Tác giả Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với GDĐĐ, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000. Trước sự biến đổi sâu sắc của nền kinh tế tri thức, nền kinh tế thị trường, sự hội nhập và những vấn đề toàn cầu hóa, nhân tố con người có vai trò đặc biệt trong việc giải quyết các xung đột về kinh tế, văn hóa, xã hội, sắc tộc, tôn giáo, nạn ô nhiễm môi trường… Cho nên, đã có nhiều công trình khoa học đi sâu vào nghiên cứu công tác GDĐĐ, đặc biệt công tác GDĐĐ cho học sinh. Tác giả Thái Duy Tuyên [32] đặc biệt nhấn mạnh rằng, một vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay là tăng cường công tác GDĐĐ.
Sau khi phân tích sự biến đổi kinh tế – xã hội, thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, tác giả đề xuất một số đổi mới về nội dung và phương pháp GDĐĐ và đặc biệt là việc quản lý của gia đình đối với học sinh. Với mỗi góc độ khác nhau, công tác GDĐĐ và quản lý công tác GDĐĐ có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đó chính là những vốn liếng rất cần thiết cho sự nghiệp phát triển giáo dục. Bởi vì, trong quá trình giáo dục song hành với dạy chữ là việc dạy người. Trong thời gian gần đây, có nhiều tác giả luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thực trạng đạo đức và biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh của hiệu trưởng ở 8 các trường THCS, THPT như tác giả Huỳnh Hoàng Chung nghiên cứu tại trường THCS huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp; Lê Thị Minh Trang nghiên cứu tại trường THCS huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Huỳnh Bá Tam nghiên cứu tại trường THPT ở thành phố Đà Nẵng; Nguyễn Thị Thanh Hằng nghiên cứu tại các trường THPT Mỹ Vân, huyên Tam Nông, tỉnh Phú Thọ,… Tuy nhiên công tác GDĐĐ cho học sinh tiểu học hiện nay đang đứng trước nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết và chưa được quan tâm nghiên cứu.
Huyện Chư Sê là trung tâm vùng kinh tế động lực phía Nam của tỉnh Gia Lai, đã và đang nổ lực xây dựng một đô thị văn minh – năng động – an toàn, tương xứng với vị thế, tiềm lực sẵn có. Cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ thì việc đầu tư cho giáo dục cũng được huyện nhà quan tâm, đặc biệt về cơ sở vật chất nhà trường, các phong trào dạy và học luôn được đẩy mạnh. Tuy nhiên, với bối cảnh phát triển xã hội hiện đại và quá trình hội nhập quốc tế, nhiều luồng văn hóa mới xâm nhập vào Việt Nam đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành đạo đức, nhân cách của thế hệ trẻ. Hiện nay trên địa bàn đã xuất hiện những biểu hiện đạo đức thiếu lành mạnh, không trong sáng, biểu hiện thiếu văn hóa, suy thoái đạo đức của một bộ phận trong cộng đồng dân cư, trong xã hội làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giáo dục trong nhà trường.
Hướng nghiên cứu của đề tài luận văn là tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở lý luận, đồng thời đề xuất những biện pháp hợp lý, khả thi trong quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh Tiểu học ở địa bàn huyện Chư Sê, góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục tương xứng với tiềm lực kinh tế – xã hội của huyện nhà. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội, tính chất tập thể và xã hội của lao động.
Ngày nay, người ta thừa nhận tính tất yếu của quản lý. Vai trò của quản lý ngày càng tăng cùng với sự 9 phát triển của xã hội. Quản lý trở thành nhân tố cho sự phát triển của xã hội, một hoạt động phổ biến diễn ra trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý: Winslow Taylor cho rằng, quản lý là biết được chính xác điều mà bạn muốn người khác và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [19]; Theo V.G Afanatsep, quản lý là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng phát triển xã hội và hướng cho sự vận động của xã hội phù hợp với khuynh hướng ấy [25]; Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý với gốc từ Hán Việt tột tả được bản chất của vấn đề, đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (Quản) và sửa sang, sắp xếp lại (Lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác hoạt động được ổn định và phát triển” [7].
Tác giả Trần Kiểm quan niệm rằng quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. Quản lý là tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Các định nghĩa trên tuy diễn đạt khác nhau nhưng có chung một thống nhất: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức, một nhóm xã hội; là những tác động phối hợp nỗ lực của nhiều cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.