đặt vấn đề về quản lý hoạt động du lịch mà chỉ nghiên cứu về tổ chức hoạt động du lịch hoặc gìn giữ bảo tồn di tích… Điều đó cho thấy, vẫn còn những “khoảng trống” trong nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động du lịch tại các DTLSVH. Điều này đặt ra vấn đề cần thiết phải nghiên cứu hiện nay, đó là: Thứ nhất, cần xây dựng một khung khổ lý luận về quản lý hoạt động du lịch tại các điểm DTLSVH cấp tỉnh bao gồm các khái niệm, nội dung quản lý Nhà nƣớc mà chủ thể quản lý là Ban quản lý di tích bao gồm: xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch. Ngoài ra, khung khổ lý luận cần chỉ ra các nhân tố ảnh hƣởng cũng nhƣ tiêu chí đánh giá về công tác quản lý hoạt động du lịch tại các điểm DTLSVH ở địa phƣơng. Thứ hai, cần phân tích thực tiễn công tác quản lý hoạt động du lịch tại một điểm DTLSVH cụ thể để thấy đƣợc thực trạng hiện nay để tìm hƣớng giải quyết nhằm phát triển du lịch ở điểm DTLSVH đó trong thời gian tới.
Thứ ba, đề xuất những giải pháp mang tính đồng bộ, hệ thống không chỉ để phát triển du lịch tại một điểm DTLSVH cụ thể mà còn có thể là những gợi ý cho nhiều điểm DTLSVH khác ứng dụng. Từ những phân tích trên, tác giả của luận văn đã lựa chọn đề tài quản lý hoạt động du lịch tại DTLSVH mà cụ thể là ở di tích lịch sử đền lƣỡng quốc trạng nguyên Tống Trân tỉnh Hƣng Yên để nghiên cứu tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động du lịch ở đây, mở ra hƣớng nghiên cứu mới. Tác giả luận văn này kế thừa 10 và vận dụng những luận điểm các công trình của các tác giả nghiên cứu trƣớc đây về từng lĩnh vực quản lý và bảo tồn các DTLSVH, từ đó đƣa ra hƣớng nghiên cứu cho mình, đồng thời nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực cho công tác quản lý hoạt động du lịch ở di tích lịch sử đền lƣỡng quốc trạng nguyên Tống Trân nói riêng và cho tỉnh Hƣng Yên nói chung nhằm phát triển ngành du lịch theo đúng hƣớng và đạt đƣợc mục tiêu đề ra.2 C sở lý luận về quản lý hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về du lịch Có thể nói ngày nay du lịch đã và đang trở thành một trong những nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống xã hội của con ngƣời.
Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, du lịch không chỉ giới hạn trong phạm vi của quốc gia, một khu vực mà đã trải rộng hầu hết các nƣớc trến thế giới với tốc độ ngày càng nhanh. Trƣớc thực tế phát triển của ngành du lịch thì việc thống nhất những khái niệm cơ bản trong đó có khái niệm du lịch là một đòi hỏi cần thiết. Tuy vậy, đến nay khái niệm về du lịch vẫn đƣợc hiểu dƣới những góc độ khác nhau. Điều này đƣợc thể hiện qua phát biểu của Tiến sỹ Bemeker, ngƣời Thụy Sỹ - chuyên gia trong lĩnh vực du lịch: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa ” [6].
Theo Liên hiệp quốc tế và các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organization: IUOTO): “Du lịch đƣợc hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sổng” [6]. Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma - Italia ( 21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đƣa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ [6].I pirôgionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ trong thời gian r i liên quan với sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá [30]. Từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam (1996) chỉ ra nội dung cơ bản của du lịch gồm hai phần riêng biệt: Đứng trên góc độ của chuyến đi: “Du lịch là một dạng nghỉ dƣỡng sức, tham quan tích cực của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú với mục đích: Nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật”.
Đứng trên góc độ kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: Nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nƣớc; đối với ngƣời nƣớc ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại ch ” [23]. Mặc dù có rất nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch nhƣng một cách chung nhất, khái quát nhất trong Điều 3, Chƣơng I, Luật Du lịch 2017 nƣớc ta quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (khoản 1) [16]. Theo khái niệm trên, chúng ta thấy rằng du lịch có phạm vi rất rộng vì nó là tổng hòa các mối quan hệ và hiện tƣợng, lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện quyết định đến sự phát triển du lịch của m i quốc gia, m i địa phƣơng. Vai tr của du lịch Ngày nay trên thế giới, du lịch đã và vẫn đang trở thành một trong những ngành kinh tế hấp dẫn và ngày càng giữ môt vị trí quan trọng trong thu nhập quốc 12 dân của nền kinh tế ở nhiều quốc gia.
Hội đồng lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel Tourism Council) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới. Đặc biệt với một nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam thì vai trò của du lịch càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đƣợc thể hiện trên cả phƣơng diện kinh tế và xã hội: Vai trò đ i với kinh tế Các nhà kinh tế đã khẳng định : “Du lịch là ngành xuất khẩu vô hình”. Với tiềm năng đã có sẵn, ngành du lịch đã tạo cho mình những sản phẩm đặc biệt so với các ngành kinh tế khác để kinh doanh, đem lại nguồn thu cho đất nƣớc. Chúng ta cần nhấn mạnh rằng, việc phát triển du lịch quốc tế sẽ làm tăng nhanh nguồn thu nhập ngoại tệ thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch.
Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, việc tích luỹ các đồng ngoại tệ mạnh nhƣ USD, EURO, YÊN có ý nghĩa rất lớn trong việc tránh lạm phát, bảo vệ nội tệ. Du lịch là một ngành xuất khẩu tại ch có hiệu quả kinh tế cao khi khách du lịch đến tham quan và nghỉ dƣỡng họ sẽ tiêu thụ một khối lƣợng lớn nông sản thực phẩm dƣới dạng các món ăn đồ uống và mua hàng hoá nhƣ là các đặc sản của vùng, đồ thủ công mỹ nghệ. Nhƣ vậy địa phƣơng sẽ thu ngoại tệ tại ch với hiệu quả cao (tiết kiệm đƣợc chi phí bảo quản, lƣu kho, đóng gói, vận chuyển, sự hao hụt khi xuất khẩu ra thị trƣờng thế giới). Một ngành kinh tế muốn phát triển tất yếu phải có sự tham gia và chịu sự tác động hai chiều với các ngành kinh tế khác.
Là một ngành dịch vụ, một ngành kinh tế độc đáo, du lịch phát triển là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Thông qua du lịch, các ngành kinh tế nhƣ nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp hàng tiêu dùng bán đƣơc một số lƣợng hàng lớn với giá cao. Bên cạnh đó, du lịch còn đóng vai trò nhƣ một nhà quảng cáo, nhà maketing các sản phẩm của các ngành kinh tế khác, kích thích và thúc đẩy các ngành thay đổi dây chuyền hiện đại, nghiên cứu mẫu mã để làm hài lòng thị hiếu của khách hàng. 13 Du lịch giúp tăng cƣờng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Du lịch là ngành có khả năng thu hút vốn đầu tƣ cao vì mang lại t suất lợi nhuận cao, khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp nhƣ đầu tƣ vào các ngành công nghiệp nặng hay giao thông vận tải. Ngành du lịch phát triển còn kích thích sự phát triển của các ngành xây dựng, giao thông vận tải, ngân hàng. thông qua các cơ sở du lịch và khách du lịch tiêu thụ một khối lƣợng lớn các sản phẩm của ngành này. Mặt khác, việc phát triển du lịch còn rất phù hơp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nƣớc ta.
Vì vậy, trong những năm qua quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc là: “đƣa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”, quan điểm đó xuất phát từ một thực tế, du lịch không những chỉ đem lại lợi ích về kinh tế mà còn góp phần tăng cƣờng mối quan hệ quốc tế, củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lƣu văn hóa giữa các nƣớc, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Đối với nƣớc ta, việc phát triển du lịch rất phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng chuyển mạnh sang các ngành dịch vụ. Phát triển du lịch quốc tế và nội địa đã và đang trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và nhà nƣớc ta vì du lịch không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế mà còn góp phần quan trọng vào việc tăng cƣờng mối quan hệ quốc tế, củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lƣu văn hóa giữa các quốc gia.