phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp quận. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng Quản lý đội ngũ cán bộ công chức tại UBND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Chƣơng 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện Quản lý đội ngũ cán bộ công chức tại UBND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2025 và tầm nhìn 2030. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ công chức và quản lý đội ngũ cán bộ công chức đã được công bố Tác giả Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003) “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Điểm nổi bật của công trình này là việc đưa ra nội dung tiêu chuẩn hoá cán bộ, đây là một quan điểm đổi mới trong công tác cán bộ mà tác giả có thể vận dụng và kế thừa trong luận văn của mình để nghiên cứu vấn đề tiêu chuẩn hoá cán bộ công chức cấp quận phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và đặc trưng của UBND quận Cầu Giấy. Tác giả Nguyễn Trọng Điều (chủ biên - 2007) “Về chế độ công vụ Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia.
Tác giả đã phân tích một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn của chế độ công vụ, cải cách công vụ của Việt Nam qua từng thời kỳ; Luận giải và đưa ra lộ trình thích hợp cho việc hoàn thiện chế độ công vụ Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền (2004) “Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới”, NXB Chính trị quốc gia. Các tác giả đã nghiên cứu về tổ chức Nhà nước, bộ máy hành chính, lịch sử nền công vụ, chế độ quản lý công chức ở tám nước trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Vương quốc Anh, Mỹ. 4 Tác giả Trần Đình Hoan (2009), "Đánh giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, đội ngũ CBCC đã không ngừng học tập, sáng tạo đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, dưới sự tác động của cơ chế thị trường đã làm bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ CBCC cả về phẩm chất lẫn năng lực. Một bộ phận CBCC đã bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô lãng phí; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số CBCC chưa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Tác giả góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về công tác xây dựng đội ngũ công chức nói chung, công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo bồi dưỡng CBCC nói riêng, từ đó đề ra những giải pháp hiệu quả cho công tác cán bộ trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Luận án tiến sỹ: “Hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ công chức ở Việt Nam trong điệu kiện phát triển và hội nhập quốc tế” của Trần Anh Tuấn (2007) tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng xây dựng thể chế quản lý công chức ở nước ta, trên cơ sở phân tích thực trạng, tá giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý đội ngũ công chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2010): “Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức tại tỉnh Phú Thọ hiện nay” đã đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ công chức của một địa phương cụ thể đó là tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây. Bằng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả đã phân tích sâu sắc khái niệm công vụ, khái niệm công chức, đặc trưng của đội ngũ cán bộ công chức. và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ công chức bao gồm tuyển dụng, sử dụng, quản lý; quy hoạch; đào tạo, bồi 5 dưỡng; điều động, luân chuyển; chế độ chính sách; trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức.
Những kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu và khoảng trống trong nghiên cứu 1. Những kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu Hầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên đều đi sâu phân tích các nội dung liên quan đến quản lý đội ngũ cán bộ công chức nói riêng và đội ngũ cán bộ công chức nói chung. Các giải pháp, khuyến nghị đã đề cập đến công tác tuyển dụng, chế độ chính sách đãi ngộ, xây dựng đề án vị trí công việc, phương thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất chính trị và đánh giá cán bộ công chức. nhiều giải pháp khá thiết thực, có thể áp dụng vào công tác quản lý đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH của đất nước.
Khoảng trống trong nghiên cứu - Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về đội ngũ CBCC hoặc chất lượng đội ngũ CBCC ở những chuyên ngành khoa học khác nhau rất ít công trình nghiên cứu về công tác quản lý đội ngũ CBCC trên phương diện quản lý nguồn nhân lực của chuyên ngành QLKT. Do đó trong luận văn này, tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ CBCC cấp quận và đưa ra các giải pháp theo tiếp cận của quản lý kinh tế. - Các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn luận về khái niệm cán bộ công chức, công chức hành chính. và thường tập trung phân tích đánh giá về đội ngũ CBCC của Thành phố nói chung, ít đi sâu nghiên cứu quản lý đội ngũ CBCC ở một quận cụ thể.
- Đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về quản lý đội ngũ CBCC tại UBND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Vì vậy đề tài "Quản lý đội ngũ CBCC quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” là cần thiết và không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công bố. Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ cán bộ công chức 1. Khái niệm và vai trò cán bộ công chức 1.
Khái niệm cán bộ công chức * Khái niệm cán bộ: - Cán bộ là khái niệm quan trọng trong tổ chức bộ máy và nhân sự đã được đưa vào Luật Cán bộ công chức năm 2008. Trong từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1993 thì cán bộ có hai nghĩa: “1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước”; “2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ”.
Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước mà trong cả hệ thống chính trị và là những người có trình độ được đào tạo. Số không có trình độ được đào tạo gọi là nhân viên. Với nghĩa thứ hai, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị là cán bộ. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, để phân biệt với người không có chức vụ.
Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử hoặc đề bạt, bổ nhiệm. Cán bộ ở nước ta được đặt trong các mối quan hệ xác định; cán bộ quan hệ với tổ chức và cơ chế. - Khái niệm cán bộ và khái niệm công chức được quy định cụ thể, giải thích rõ ràng tại Luật Cán bộ công chức ban hành năm 2008 có hiệu lực từ 01/01/2010. Theo đó, Cán bộ được định nghĩa là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Theo quy định của Luật Cán bộ công chức năm 2008 và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP năm 2010 của Chính phủ, có thể liệt kê những người là cán bộ gồm: 7 Ở cấp quận: Bí thư, Phó Bí thư Quận uỷ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND quận, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND quận. Như vậy, mặc dù khái niệm cán bộ và khái niệm công chức đã được phân biệt, song sự phân biệt này cũng không thật sự rõ ràng, cụ thể. Trên thực tế để trở thành người cán bộ (do được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm), phần lớn người đó đều phải trải qua thời gian làm công chức, nói một cách đúng hơn là theo khái niệm cán bộ của Luật Cán bộ công chức thì đa số cán bộ được trưởng thành từ đội ngũ công chức. * Khái niệm công chức: Theo Luật Cán bộ công chức năm 2008: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.