MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn thực hiện đề tài Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế để đƣa đất nƣớc sánh vai cùng các cƣờng quốc năm châu, trong bối cảnh đó, giáo dục luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt coi trọng. Trong định hƣớng phát triển đất nƣớc giai đoạn 2021 - 2030 của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng xác định “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…”.
Cùng với đó, tại Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng cũng đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hôi” và thƣ viện (TV) với nguồn thông tin đa dạng - chất lƣợng, cùng với trụ sở hiện đại và nguồn nhân lực có chuyên môn sẽ đáp ứng cho nhu cầu phát triển của đất nƣớc. Trong thời đại ngày nay, TV có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục của trƣờng đại học. TV đƣợc xem là trái tim tri thức của một trƣờng đại học, nó góp phần quan trọng trong việc tạo nên thƣơng hiệu của mỗi trƣờng, vì vậy, trƣờng đại học không thể thiếu TV.
Tại Điều ba Quy chế mẫu về Tổ chức và hoạt động Thƣ viện trƣờng Đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của Bộ trƣởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) quy định chức năng của TV trƣờng đại học nhƣ sau “Thư viện trường Đại học có chức năng phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý của Nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong thư viện…”. Để thực hiện tốt chức năng của mình, các hoạt động TV phải đƣợc chuẩn hóa và đổi mới. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và 1 truyền thông, TV cần đƣợc đầu tƣ thay đổi để đáp ứng vai trò của mình. Tại Việt Nam, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc, ngành TV ngày càng đƣợc hiện đại hóa và phát triển, trong đó có hệ thống TV đại học.
Nhiều chủ trƣơng, chính sách mới đƣợc đƣa ra tạo điều kiện cho TV nói chung và TV đại học nói riêng tiếp tục phát triển nhƣ Luật Thư viện số 46/2019/QH 14 ngày 21/11/2019; Quyết định phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”… Song song đó, tại Khoản bốn, Điều năm mƣơi của Luật giáo dục Đại học 2012 và sửa đổi bổ sung 2018 về Trách nhiệm của cơ sở giáo dục Đại học trong việc bảo đảm chất lƣợng giáo dục Đại học nêu rõ “ Duy trì và phát triển các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, bao gồm … giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập; phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện, hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở thực hành; nguồn lực tài chính, ký túc xá và cơ sở dịch vụ khác”. Cùng với cả nƣớc, tỉnh Bình Dƣơng với phƣơng châm “Học thường xuyên, suốt đời” và “Học tập để hoàn thiện nhân cách, phát triển bản thân” - (Sở GDĐT Bình Dƣơng, 2017), đã có sự quan tâm sâu sắc đến hệ thống TV của tỉnh nhà, hệ thống TV công cộng cũng nhƣ hệ thống TV các trƣờng học đƣợc củng cố, kiện toàn và đổi mới. Trong chiến lƣợc phát triển đến năm 2030, trƣờng đại học Thủ Dầu Một (ĐHTDM) với sứ mạng “Phát triển Nhà trường trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ; Cung cấp nguồn nhân lực, sản phẩm khoa học và công nghệ có chất lượng; Phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh Bình Dương, miền Đông Nam Bộ - Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”. Để hoàn thành sứ mạng của mình, Nhà trƣờng đã chú trọng đầu tƣ, xây dựng Trung tâm Học liệu (TTHL) với nguồn tài nguyên phong phú và các hoạt động TV đa dạng để đáp ứng cho nhiệm vụ trên, trong đó, hoạt động cung cấp dịch vụ thƣ viện (DVTV) là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác của Trung tâm.
Xét cho cùng thì mọi công tác của TV cũng nhằm mục đích cuối cùng là cung cấp DVTV cho ngƣời sử dụng (NSD), đặc biệt là trong bối cảnh số hiện nay. Theo luật thƣ viện số 46/2019/QH14 đƣợc Quốc hội thông qua 2 ngày 21 tháng 11 năm 2019: “Dịch cụ thư viện là hoạt động do thư viện tổ chức hoặc phối hợp tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu của người sử dụng thư viện”. Trong Quyết định phê duyệt “Chƣơng trình chuyển đổi số ngành thƣ viện đến năm 2025, định hƣớng đến năm 2030” cũng nêu rõ mục tiêu là“… bảo đảm cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng; thu hút đông đảo người dân quan tâm, sử dụng dịch vụ thư viện, góp phần nâng cao dân trí, xây dựng xã hội học tập” và đề ra định hƣớng đến năm 2030 là “Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển thư viện số, thực hiện liên thông ở mọi loại hình thư viện, bảo đảm cung ứng dịch vụ hiệu quả cho người sử dụng thư viện mọi nơi, mọi lúc”. Với vai trò quan trọng, chi phối mọi hoạt động khác của TV, chất lƣợng cung cấp DVTV phải đƣợc đầu tƣ và quan tâm hàng đầu.
Để đạt đƣợc yêu cầu này, công tác quản lý hoạt động cung cấp DVTV của TTHL trƣờng ĐHTDM có vai trò quyết định. Trong thời gian qua, quản lý (QL) hoạt động cung cấp DVTV của trƣờng ĐHTDM đã có nhiều kết quả: chất lƣợng dịch vụ (DV) ngày càng nâng cao, bên cạnh những DV truyền thống nhƣ đọc tại chỗ, mƣợn về nhà, DV hỏi đáp…thì nhiều DVTV khác đƣợc triển khai nhƣ DVTV liên kết, DV cung cấp thông tin theo yêu cầu, DV sao chụp tài liệu, scan…nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú của NSD; các hoạt động dành cho bạn đọc đƣợc tổ chức thƣờng xuyên; các DVTV hầu nhƣ đƣợc ứng dụng CNTT; đội ngũ nhân viên TV phục vụ tận tình, trách nhiệm mang lại sự thỏa mái, hài lòng cho NSD. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, công tác QL hoạt động cung cấp DVTV vẫn còn nhiều hạn chế nhất định: mức độ sử dụng DVTV chƣa cao, hoạt động hƣớng dẫn sử dụng TV còn yếu, một số dịch vụ chất lƣợng chƣa thỏa mãn nhu cầu NSD; hoạt động cung cấp DVTV còn hạn hẹp trong QL áp đặt, vẫn còn nặng về QL hành chính; công tác QL chƣa đƣợc chặt chẽ, thƣờng xuyên. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ thư viện tại trường Đại học Thủ Dầu Một” nhằm nghiên cứu thực trạng QL hoạt động cung cấp DVTV và đề xuất giải pháp giúp cho công tác QL hoạt động cung cấp DVTV của Trung tâm hiệu quả.
Mục tiêu/giả thuyết nghiên cứu 3 2. Mục tiêu Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, đề tài khảo sát, đánh giá thực trạng QL hoạt động cung cấp DVTV tại trƣờng ĐHTDM. Từ đó, đề xuất các biện pháp QL hoạt động cung cấp DVTV tại trƣờng ĐHTDM có tính thực tiễn và khả thi. Giả thuyết Thời gian qua, hoạt động và công tác QL hoạt động cung cấp DVTV tại trƣờng ĐHTDM đạt đƣợc nhiều thành tích nhất định trong chất lƣợng của DVTV mang lại.
Tuy nhiên, vấn đề QL hoạt động cung cấp DVTV vẫn còn một số hạn chế và bất cập trong việc tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng QL hoạt động cung cấp DVTV tại trƣờng ĐHTDM thì sẽ đề xuất đƣợc các biện pháp QL hoạt động cung cấp DVTV tại trƣờng ĐHTDM có tính thực tiễn và khả thi cao. Tổng quan tình hình nghiên cứu 3. Nghiên cứu nƣớc ngoài Có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan về QL hoạt động cung cấp DVTV ở nƣớc ngoài: Liên quan đến công tác quản lý TV có giáo trình “Library management 101: a practical guide” của các tác giả Lisa K.
Hussey và Diane L. Velasquez (2019), giới thiệu về công tác QL nói chung và công tác quản lý TV tại Hoa Kỳ, tài liệu trình bày khá đầy đủ khía cạnh liên quan đến QL từ tổng quan đến trình bày các kỹ năng trong công tác quản lý TV. Các tác giả Luisa Alvite và Leticia Barrionuevo đã cho ra đời cuốn sách “Libraries for users: Services in academic libraries” (2011), Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề của TV trong xu thế của xã hội mới, phản ánh về vai trò của TV đại học và những thách thức, chiến lƣợc và quan điểm trong tƣơng lai nhằm củng cố các DV đƣợc cung cấp cho NSD và duy trì công tác quản lý TV trong việc cung cấp thông tin. Một loạt tài liệu tập trung giới thiệu về vấn đề chung liên quan đến DVTV nhƣ: Tác giả Long Xiao với bài viết “Three dimensional xtension of a digital library service system” (2010).
Bài báo cung cấp một phƣơng pháp luận tổng thể và nghiên cứu điển hình cho việc đổi mới và mở rộng TV số, đặc biệt là hệ thống 4 DV. Bài viết “The smart library project: Development of information and library services for educational and scientific activity” của tác giả Sergey Vladimirovich Verkhovets, Olga Ivanovna Babina (2018) là công trình nghiên cứu giới thiệu về TV thông minh, trong đó đề cập đến dịch vụ thông tin – thƣ viện (TT – TV) tại các trƣờng Đại học thông qua tài khoản cá nhân của ngƣời dùng. Bolin với giáo trình “The 21st century academic library: global patterns of organization and discourse” (2018). Đây là cuốn sách đề cập đến vấn đề TV trong giáo dục Đại học và các hoạt động của TV, trong đó có nói đến vấn đề DVTV.
Ngoài ra, cuốn sách “Technology, Change and the Academic Library: Case Studies, Trends and Reflections” của tác giả Jeremy Atkinson nói về công nghệ cùng với QL sự thay đổi trong TV. Đặc biệt, nội dung có đề cập đến vấn đề DV tƣ vấn thông tin trong TV Đại học; phát triển DV tìm kiếm sách điện tử cho TV Đại học…và những vấn đề liên quan khác. Một số khác giới thiệu về các loại DVTV cụ thể hiện đang sử dụng tại các TV, bao gồm: Trƣớc hết là DVTV liên kết.