Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9319042) của nghiên cứu sinh Đỗ Linh Giang, được thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Thu Hương vào năm 2022, có tiêu đề: "Quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng (qua trường hợp Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi)".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng di tích lịch sử quân sự cách mạng (DTLSQSCM) là bộ phận hợp thành của di tích lịch sử - văn hóa, mang chức năng giáo dục trực quan về truyền thống đấu tranh vũ trang và nghệ thuật quân sự. Tuy nhiên, công tác quản lý hiện nay bộc lộ nhiều điểm bất cập: một số hạng mục bị biến dạng sau trùng tu thiếu cơ sở khoa học; yếu tố gốc cấu thành di tích suy giảm do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và tác động của con người; vật liệu xây dựng phần lớn không bền vững (tre, nứa, gỗ, bao tải cát, đất tự nhiên). Đặc biệt, sự phân cấp quản lý giữa các bộ, ngành và địa phương chưa thống nhất. Cùng là di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới nhưng chủ thể quản lý trực tiếp có sự khác biệt lớn: Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội; Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tỉnh Điện Biên; Địa đạo Củ Chi chịu sự quản lý của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp cùng UBND huyện Củ Chi. Trước đó, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về quản lý DTLSQSCM dưới góc độ liên ngành và tiếp cận lý thuyết các bên liên quan để giải quyết mâu thuẫn thẩm quyền này.

Về mục đích nghiên cứu, luận án hướng đến đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các bên liên quan tại các DTLSQSCM ở Việt Nam qua ba trường hợp cụ thể nêu trên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan để tìm ra hướng đi cho luận án, nghiên cứu cơ sở lý luận, lựa chọn lý thuyết để vận dụng triển khai luận án và xây dựng khung phân tích;
  2. Nghiên cứu hiện trạng, đặc điểm và giá trị tiêu biểu của các DTLSQSCM trong diện khảo sát;
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các DTLSQSCM từ các trường hợp nghiên cứu điển hình, gồm: di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội và Địa đạo Củ Chi;
  4. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý DTLSQSCM trong bối cảnh hiện nay.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu hỏi:

  1. Có những tổ chức, cá nhân nào cùng tham gia quản lý DTLSQSCM? Công việc cụ thể của mỗi tổ chức, cá nhân là gì?
  2. Sự phối hợp của các tổ chức, cá nhân này trong quản lý DTLSQSCM có chặt chẽ và hiệu quả không?
  3. Vấn đề gì còn tồn tại hoặc phát sinh trong quá trình quản lý DTLSQSCM và cần làm gì để tháo gỡ vấn đề đó?

Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: DTLSQSCM đang chịu sự quản lý của nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân; do sự chồng chéo trong nhiệm vụ và cơ chế phối hợp thiếu chặt chẽ nên hiệu quả quản lý chưa cao, các giá trị di tích chưa được bảo vệ và phát huy hiệu quả. Vì vậy, cần xây dựng mô hình quản lý phù hợp cùng giải pháp vận hành nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp theo tinh thần chỉ đạo của Đảng.

Đối tượng nghiên cứu là sự phối hợp và hoạt động quản lý của các bên liên quan tại các DTLSQSCM qua ba trường hợp: Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội và Địa đạo Củ Chi.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn tỉnh Điện Biên (Chiến trường Điện Biên Phủ), thành phố Hà Nội (tập trung vào di tích Nhà D67 - Tổng hành dinh thuộc Hoàng thành Thăng Long) và Thành phố Hồ Chí Minh (Địa đạo Củ Chi).
  • Thời gian: Tiếp cận theo hai mốc. Mốc thứ nhất từ khi hình thành di tích và giá trị lưu giữ (Điện Biên Phủ sau năm 1954; Tổng hành dinh xây dựng năm 1967; Địa đạo Củ Chi từ kháng chiến chống Pháp và hoàn chỉnh hệ thống đường hầm từ năm 1966). Mốc thứ hai từ năm 2014 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022), phản ánh giai đoạn giữa hai kỳ Đại hội Đảng XI và XII khi các chính sách đầu tư bảo tồn di tích quốc gia đặc biệt được đẩy mạnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả điểm lại các nhóm nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhánh chủ đề:

Về quản lý di sản văn hóa trên thế giới: Brian Garrod và Alan Fyall (2000) trong Managing heritage tourism nhấn mạnh sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác du lịch; Arthur Perdesen trong Managing Tourism at World Heritage Sites đề xuất các phương án khoanh vùng, giảm tải lượng khách để duy trì tài nguyên bền vững; Peter Howard trong Heritage: Management, Interpretation, Identity phân tích lịch sử quản lý di sản từ thế kỷ XIX; Hilary du Cros và Yok-Shiu F. Lee trong Cultural heritage management in China khảo sát kinh nghiệm quản lý di sản tại vùng châu thổ sông Châu Giang; Zhan Chang Yuan trong Culture Industrial management tiếp cận quản lý di sản dưới góc độ công nghiệp văn hóa.

Về quản lý di sản văn hóa và di tích tại Việt Nam: Tác giả phân tích các giáo trình và chuyên khảo của Lê Hồng Lý (Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch), Nguyễn Chí Bền (chương trình khoa học cấp nhà nước KX.09 về bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội), Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân (Quản lý di sản văn hóa), Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế), Trương Quốc Bình (Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam). Bên cạnh đó là các luận án tiến sĩ của Trần Đức Nguyên (quản lý di tích ở Bắc Ninh), Trịnh Ngọc Chung (quản lý di sản thế giới tại Huế và Hội An), Phạm Văn Triệu (di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long), Nguyễn Thị Hằng (Khu di tích Địa đạo Củ Chi trong đời sống văn hóa cộng đồng). Cùng với đó là các bài nghiên cứu của Đặng Văn Bài, Nguyễn Quốc Hùng, Bùi Hoài Sơn, Quang Minh và Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Viết Cường.

Về quản lý di tích lịch sử quân sự và di tích cách mạng: Tác giả khảo cứu kỷ yếu Hội nghị Bảo tồn - bảo tàng truyền thống toàn quân (Tổng cục Chính trị), công trình 40 năm Viện Bảo tàng Quân đội, luận văn của Phạm Vũ Sơn về quản lý di tích quân sự tại Hà Nội, sách của Phạm Hồng Châu, sách của Vũ Thiên Bình (Di tích lịch sử cách mạng Việt Nam, Những chiến thắng lịch sử từ Điện Biên Phủ đến Dinh Độc Lập), các bài viết của Lưu Trần Tiêu, Nguyễn Phạm Xanh, Nguyễn Đức Nguyên.

Về ba trường hợp nghiên cứu cụ thể:

  • Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ: Sách Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, đề tài xác định mốc giới của Vũ Nam Hải, kỷ yếu Hội thảo du lịch Điện Biên (2014) và Hội thảo khoa học do Bộ Quốc phòng phối hợp Tỉnh ủy Điện Biên tổ chức (2014).
  • Tổng hành dinh trong Hoàng thành Thăng Long: Ấn phẩm của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2010), sách của Vũ Văn Quân, Nguyễn Vinh Phúc, đề tài bảo quản tu bổ của Viện Bảo tồn di tích (2020), kỷ yếu hội thảo khoa học 10 năm bảo tồn di sản Hoàng thành Thăng Long (2015, 2020).
  • Địa đạo Củ Chi: Các công trình của Trần Đình Dũng, Hồ Sĩ Thành (Địa đạo Củ Chi, 100 câu hỏi và đáp về Địa đạo Củ Chi), Diệp Hồng Phương, Võ Tấn Tạo, Đảng bộ huyện Củ Chi, Trần Văn Tâm; cùng các tài liệu quốc tế của John Penycate và Tom Mangold Ham, Mydans S., Riddle L., Krishna A.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ba địa danh dưới góc độ lịch sử, văn hóa, du lịch hoặc di tích lịch sử - văn hóa nói chung, chưa xem xét chúng như một loại hình riêng biệt là DTLSQSCM. Giá trị khoa học quân sự của các di tích này chưa được khảo sát đầy đủ. Hơn nữa, các công trình chưa đi sâu vào phương thức và công cụ quản lý dựa trên lý thuyết các bên liên quan, chưa đánh giá cụ thể cơ chế phân cấp và phối hợp giữa ngành văn hóa, cơ quan quân đội và chính quyền địa phương trong việc bảo tồn các công trình có cấu kiện kém bền vững ngoài trời. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) làm khung lý thuyết chủ đạo. Theo đó, quản lý di tích không phải là hoạt động đơn lẻ của một cơ quan mà là sự tương tác giữa:

  • Bên trực tiếp quản lý di tích: Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi.
  • Bên gián tiếp quản lý di tích: Chia thành cơ quan chỉ đạo (Chính phủ, Bộ VHTTDL, Bộ Quốc phòng, UBND cấp tỉnh/thành phố) và cơ quan phối hợp (Bộ Quốc phòng, các sở ban ngành địa phương, UBND cấp quận/huyện).

Khung phân tích hoạt động quản lý được xây dựng dựa trên 8 nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa quy định tại Luật Di sản văn hóa:

  1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách;
  2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật;
  3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị, tuyên truyền giáo dục pháp luật;
  4. Tổ chức, quản lý nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn;
  5. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực;
  6. Khen thưởng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản;
  7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế;
  8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.

Về khái niệm công cụ, tác giả chuẩn hóa các định nghĩa: Di tích lịch sử - văn hóa (theo Điều 28 Luật Di sản văn hóa, Hiến chương Venice 1964); Di tích lịch sử quân sự; Di tích cách mạng. Từ đó xác định: DTLSQSCM là những di tích lịch sử - văn hóa gắn với lĩnh vực quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh, là những địa điểm, công trình gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khái niệm Tổng hành dinh được xác định là cơ quan đầu não chỉ huy quân sự tối cao của quốc gia trong thời chiến (trọng tâm là Nhà D67).

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành (Xã hội học, Nhân học, Sử học, Khảo cổ học, Tâm lý học) kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Khảo sát, điền dã thực địa tại Điện Biên, Hà Nội và Củ Chi.
  • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát 910 phiếu, thu về 861 phiếu hợp lệ (tỷ lệ hợp lệ 94,6%).
Địa bàn khảo sát Đối tượng điều tra Số phiếu phát ra Số phiếu hợp lệ
Di tích Chiến trường Điện Biên Phủ (tháng 5/2019) Cán bộ, nhân viên Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ 100 99
Khách du lịch tham quan Điện Biên Phủ 200 186
Tổng hành dinh - Hoàng thành Thăng Long (tháng 6/2019) Cán bộ, sĩ quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam 25 24
Học viên Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội 60 56
Cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội 75 71
Khách tham quan Hoàng thành Thăng Long 150 146
Di tích Địa đạo Củ Chi (tháng 7/2019) Cán bộ Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh 50 49
Cán bộ Ban Quản lý Di tích Địa đạo Củ Chi 50 47
Khách du lịch tham quan Địa đạo Củ Chi 200 183
Tổng cộng 910 861
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (phỏng vấn sâu): Phỏng vấn trực tiếp 10 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa, bảo tồn bảo tàng, kinh tế, du lịch và khảo cổ học.
  • Phương pháp mô hình hóa, phương pháp so sánh (đối chiếu các mô hình quản lý giữa 3 di tích), phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê tư liệu thứ cấp.

Nguồn tư liệu gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Di sản văn hóa, các Nghị định, Quyết định xếp hạng); hồ sơ khoa học di tích; các báo cáo định kỳ của ba đơn vị quản lý trực tiếp; số liệu thống kê du khách giai đoạn 2015-2021; dữ liệu sơ cấp từ 861 phiếu điều tra và biên bản 10 cuộc phỏng vấn sâu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng

Chương này tập trung hệ thống hóa 4 nhóm tài liệu: nghiên cứu quản lý di sản văn hóa trên thế giới; quản lý di sản văn hóa tại Việt Nam; quản lý di tích lịch sử quân sự và di tích cách mạng; nghiên cứu cụ thể về ba di tích khảo sát. Tác giả luận giải các khái niệm cốt lõi: di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử quân sự, di tích cách mạng, DTLSQSCM và quản lý nhà nước về DTLSQSCM. Trên cơ sở lý thuyết các bên liên quan, chương 1 thiết lập khung phân tích gồm 8 nội dung quản lý nhà nước, đồng thời phân chia các chủ thể quản lý thành bên trực tiếp, bên gián tiếp chỉ đạo và bên gián tiếp phối hợp. Đây là hệ quy chiếu lý luận để đánh giá hiện trạng và đề xuất mô hình quản lý trong các chương tiếp theo.

Chương 2: Khái quát về các di tích lịch sử quân sự cách mạng: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi

Chương 2 mô tả quá trình lịch sử hình thành, hiện trạng bảo tồn và giá trị tiêu biểu của ba di tích:

  • Di tích Chiến trường Điện Biên Phủ: Xếp hạng quốc gia năm 1962 (gồm 62 di tích đợt đầu), xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2009 với 22 điểm, bổ sung 23 điểm vào năm 2015, hình thành quần thể gồm 45 điểm di tích. Quần thể chia thành hai hệ thống: 23 điểm thuộc phân khu phòng ngự của quân Pháp (trung tâm Mường Thanh, hầm Đờ Cát, đồi A1, C1, C2, D1, Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập, Hồng Cúm) và 22 điểm gắn với Quân đội nhân dân Việt Nam (Sở Chỉ huy Mường Phăng với lán Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hầm xuyên sơn dài 97m, trạm thông tin, đường kéo pháo). Về hiện trạng kỹ thuật: 45/45 điểm xác định khu vực bảo vệ I, 30/45 điểm có khu vực bảo vệ II, 28/45 điểm đã cắm mốc thực địa, 23/45 điểm có hồ sơ khoa học hoàn chỉnh, 9/45 điểm được đầu tư tôn tạo và 6/45 điểm có bán vé tham quan. Khó khăn lớn là vật liệu kém bền vững (gỗ, tre, nứa, bao tải cát, đất tự nhiên) nhanh hư hại dưới thời tiết lòng chảo, cùng áp lực đô thị hóa của thành phố Điện Biên Phủ gây lấn chiếm đất di tích.
  • Di tích Tổng hành dinh (Nhà D67 thuộc Hoàng thành Thăng Long): Xây dựng năm 1967, gồm nhà làm việc và hầm ngầm kiên cố, là nơi Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đưa ra các quyết sách chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khu vực này chịu sự chuyển giao quyền quản lý đất đai từ Bộ Quốc phòng sang UBND thành phố Hà Nội theo lộ trình từ sau năm 2010.
  • Di tích Địa đạo Củ Chi: Hệ thống công sự ngầm trong lòng đất phát triển qua hai cuộc kháng chiến, hoàn thiện mạng lưới đường hầm nhiều tầng từ năm 1966. Di tích mang giá trị quân sự về chiến tranh nhân dân, hiện do Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp quản lý cùng địa phương.

Chương 3: Thực trạng quản lý các di tích lịch sử quân sự cách mạng nhìn từ các bên liên quan

Chương 3 phân tích thực trạng vận hành bộ máy theo 8 nội dung quản lý nhà nước tại 3 địa bàn nghiên cứu:

  • Phân định thẩm quyền: Chỉ ra sự thiếu đồng nhất trong mô hình cơ quan chủ quản. Di tích Điện Biên Phủ trực thuộc Sở VHTTDL; di tích Tổng hành dinh trực thuộc UBND thành phố Hà Nội nhưng gắn với vùng lõi di sản thế giới chịu sự giám sát của UNESCO và còn vướng diện tích do Bộ Quốc phòng quản lý chưa bàn giao xong; di tích Củ Chi trực thuộc lực lượng vũ trang (Bộ Tư lệnh Quân khu 7).
  • Cơ chế phối hợp: Sự kết nối giữa ngành văn hóa và Bộ Quốc phòng trong công tác nghiên cứu khoa học quân sự, thẩm định hiện vật và bổ sung tư liệu chuyên ngành còn mang tính sự vụ, thiếu quy chế liên tịch thường xuyên.
  • Thực trạng nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính: Bảng khảo sát nhân lực tại các ban/trung tâm quản lý cho thấy tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về bảo quản vật liệu quân sự và bảo tàng học còn thiếu. Việc đầu tư tôn tạo chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, việc xã hội hóa nguồn vốn gặp khó khăn do tính chất đặc thù của di tích quân sự.
  • Số liệu thống kê du khách: Khảo sát số liệu khách tham quan giai đoạn 2015-2021 qua các bảng thống kê trong luận án: Bảng 3.1 phản ánh lượng khách tại Hoàng thành Thăng Long (2015-2020); Bảng 3.2 phản ánh lượng khách tại di tích Điện Biên Phủ (2016-2021); Bảng 3.3 phản ánh lượng khách tại Địa đạo Củ Chi (2015-2020). Lượng khách có xu hướng tăng nhưng sụt giảm mạnh trong giai đoạn 2020-2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh. Tác giả cũng tổng hợp kết quả điều tra xã hội học qua các bảng về phối hợp tuyên truyền giáo dục (Bảng 3.1), trình độ học vấn cán bộ quản lý (Bảng 3.2), phối hợp quản lý nguồn lực (Bảng 3.3) và phối hợp thanh tra, kiểm tra (Bảng 3.4).

Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng trong điều kiện hiện nay

Chương 4 xác định các căn cứ đề xuất giải pháp dựa trên chủ trương của Đảng về phân cấp quản lý văn hóa, hệ thống pháp luật di sản và đặc điểm thực tế của DTLSQSCM. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp: Ban hành quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ VHTTDL, Bộ Quốc phòng và UBND các tỉnh/thành phố; phân định rõ trách nhiệm pháp lý giữa đơn vị trực tiếp quản lý và các cơ quan chỉ đạo, phối hợp.
  2. Đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nhân lực: Chuẩn hóa ngạch viên chức quản lý di tích; đào tạo kỹ năng chuyên sâu về bảo quản hiện vật quân sự, diễn giải lịch sử chiến tranh cho đội ngũ thuyết minh viên.
  3. Ứng dụng kỹ thuật và công nghệ bảo tồn thích ứng: Triển khai các phương pháp khoa học bảo quản vật liệu không bền vững (gỗ, đất, tre nứa) trước khí hậu nhiệt đới ẩm; hoàn thành cắm mốc giới, giải tỏa các điểm di tích bị lấn chiếm tại Điện Biên Phủ; số hóa hồ sơ hiện vật và tư liệu chiến trường.
  4. Đa dạng hóa nguồn lực và hoàn thiện cơ chế tài chính: Kết hợp ngân sách trung ương, địa phương và nguồn thu dịch vụ du lịch; khuyến khích các chương trình liên kết giáo dục truyền thống với lực lượng vũ trang và học sinh, sinh viên.
  5. Nâng cao hiệu quả phát huy giá trị di tích gắn với du lịch bền vững: Xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm lịch sử chân thực, mở rộng điểm tham quan có thu phí tại Điện Biên Phủ (vượt khỏi giới hạn 6 điểm hiện tại), đổi mới trưng bày tại Tổng hành dinh và Địa đạo Củ Chi.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về quản lý DTLSQSCM tại Việt Nam; làm rõ các khái niệm, đặc điểm cấu thành và yêu cầu khách quan của việc quản lý loại hình di tích này.
  • Luận án ứng dụng lý thuyết các bên liên quan vào lĩnh vực quản lý di sản, xây dựng khung phân tích và mô hình phối hợp giữa cơ quan quản lý trực tiếp và các cơ quan quản lý gián tiếp (cơ quan chỉ đạo, cơ quan phối hợp), tạo cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu quản lý di tích quân sự.

Về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh thực trạng công tác quản lý tại ba di tích tiêu biểu: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh (Hoàng thành Thăng Long) và Địa đạo Củ Chi; cung cấp hệ thống dữ liệu điều tra xã hội học thực địa với 861 mẫu hợp lệ và 10 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia.
  • Xác định nguyên nhân dẫn đến các bất cập trong quản lý di tích (sự phân cấp chưa thống nhất, vật liệu kém bền vững bị hư hại, tình trạng lấn chiếm đất đai, thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật chuyên trách).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, trọng tâm là xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ VHTTDL, Bộ Quốc phòng và chính quyền địa phương, làm căn cứ thực tế để hoàn thiện mô hình quản lý các di tích quốc gia đặc biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong 3 trường hợp di tích cụ thể đại diện cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chưa khảo sát toàn bộ các di tích lịch sử quân sự cách mạng trên phạm vi toàn quốc.
  • Nguồn số liệu điều tra xã hội học và khảo sát du khách được thực hiện tập trung vào năm 2019 và giai đoạn 2015-2021, chưa đánh giá hết các biến động quản lý sau giai đoạn phục hồi du lịch.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các hệ thống di tích quân sự cách mạng khác như đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, các căn cứ kháng chiến khu căn cứ địa Việt Bắc, hoặc các di tích chiến trường tại miền Trung.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các giải pháp kỹ thuật, công nghệ vật liệu nhằm xử lý tình trạng xuống cấp của các công trình công sự bằng đất, tre, gỗ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Văn hóa học, Lịch sử quân sự và Du lịch; đặc biệt là phương pháp ứng dụng lý thuyết các bên liên quan và thiết kế công cụ điều tra xã hội học trong quản lý di sản.
  • Cán bộ quản lý, chuyên viên hoạch định chính sách tại Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL), Cục Tuyên huấn, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng), Sở VHTTDL các địa phương.
  • Ban quản lý, trung tâm bảo tồn tại các khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, phân định mốc giới bảo vệ và quản lý nguồn nhân lực di tích.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm di tích lịch sử quân sự cách mạng được tác giả định nghĩa như thế nào?
Tác giả định nghĩa: Di tích lịch sử quân sự cách mạng là những di tích lịch sử - văn hóa gắn với lĩnh vực quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh; là những địa điểm, công trình, những di tích quân sự gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Mẫu điều tra xã hội học trong luận án được tiến hành với quy mô bao nhiêu và phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu sinh phát ra tổng cộng 910 phiếu điều tra và thu về 861 phiếu hợp lệ. Cụ thể: tại di tích Điện Biên Phủ thu về 285 phiếu hợp lệ (99 cán bộ/nhân viên, 186 khách du lịch); tại Tổng hành dinh thu về 297 phiếu hợp lệ (24 cán bộ/sĩ quan, 56 học viên quân đội, 71 cán bộ trung tâm bảo tồn, 146 khách tham quan); tại Địa đạo Củ Chi thu về 279 phiếu hợp lệ (49 cán bộ Bộ Tư lệnh TP.HCM, 47 cán bộ ban quản lý, 183 khách du lịch). Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 10 chuyên gia.

3. Hiện trạng khoanh vùng và đầu tư tại 45 điểm di tích Chiến trường Điện Biên Phủ ra sao?
Trong tổng số 45 điểm di tích thành phần: 45 điểm đã xác định khu vực bảo vệ I; 30/45 điểm có khu vực bảo vệ II; 28/45 điểm được cắm mốc trên thực địa; 23/45 điểm có đầy đủ hồ sơ khoa học; 9/45 điểm đã thực hiện đầu tư tôn tạo; và mới chỉ có 6/45 điểm triển khai bán vé phục vụ tham quan.

4. Điểm khác biệt lớn nhất về chủ thể quản lý trực tiếp giữa ba di tích khảo sát là gì?
Chủ thể quản lý trực tiếp giữa ba di tích có sự khác biệt rõ rệt: Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ do Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên (thuộc Sở VHTTDL tỉnh Điện Biên) quản lý; Tổng hành dinh trong Hoàng thành Thăng Long do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội (trực thuộc UBND thành phố Hà Nội) quản lý; còn Di tích Địa đạo Củ Chi do Ban Quản lý trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp cùng UBND huyện Củ Chi quản lý.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Linh Giang là công trình chuyên khảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý DTLSQSCM tại Việt Nam dựa trên khung tiếp cận lý thuyết các bên liên quan. Thông qua việc phân tích thực chứng tại ba trường hợp điển hình gồm Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh Nhà D67 và Địa đạo Củ Chi, luận án chỉ rõ các bất cập trong phân cấp tổ chức, cơ chế phối hợp liên ngành cũng như thách thức bảo quản vật liệu không bền vững. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử quân sự cách mạng trong giai đoạn hiện nay.