Tổng quan nghiên cứu

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ngoại ngữ và đặc biệt là tiếng Anh trở thành công cụ giao tiếp, học tập và làm việc cốt lõi. Tuy nhiên, tại Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa B thuộc huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, công tác dạy học bộ môn tiếng Anh trong giai đoạn 2015 đến 2018 vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về phương pháp truyền thụ, kiểm tra đánh giá và quản lý chuyên môn.

Mặc dù quy mô nhà trường duy trì ổn định với 30 lớp học và khoảng 1.200 học sinh, tỷ lệ thi đỗ đại học tăng từ 47,0% ở năm học 2015-2016 lên 54,4% ở năm học 2017-2018, chất lượng năng lực giao tiếp thực tế của học sinh vẫn chưa đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra. Đề tài tập trung giải quyết bài toán then chốt: hoàn thiện hệ thống quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo định hướng tiếp cận năng lực nhằm chuyển hóa việc học từ đối phó sang chủ động, thực chất.

Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá toàn diện thực trạng quản lý dạy học môn tiếng Anh, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lý khả thi. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa B trong khoảng thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 08/2019, cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng cao hiệu quả quản trị giáo dục cho 64 cán bộ, giáo viên và toàn thể học sinh nhà trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu kế thừa hệ thống nguyên tắc sư phạm kinh điển của Jan Amos Comenius về phát huy tính tích cực, trực quan và tư tưởng giáo dục tiến bộ của John Dewey năm 1916 về việc lấy người học làm trung tâm, gắn việc học với kinh nghiệm thực tiễn. Về mặt quản lý giáo dục, luận văn vận dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Đồng thời, cấu trúc năng lực được làm rõ dựa trên quan điểm của tác giả Nguyễn Công Khanh với mô hình 4 thành phần tương ứng với 4 trụ cột giáo dục của UNESCO: Năng lực chuyên môn (Học để biết), Năng lực phương pháp (Học để làm), Năng lực xã hội (Học để cùng chung sống) và Năng lực cá thể (Học để tự khẳng định).

Theo định hướng giáo dục phổ thông mới, quá trình dạy học hướng tới hình thành 3 phẩm chất chính (sống yêu thương, sống trách nhiệm, sống trung thực) và 8 năng lực cốt lõi (tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, thẩm mỹ, thể chất, giao tiếp, hợp tác, tính toán, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông). Trong môn tiếng Anh, năng lực chuyên biệt được cấu thành từ hai trụ cột: năng lực tiếp nhận thông qua kỹ năng nghe và đọc hiểu; năng lực tạo lập thông qua kỹ năng nói và viết.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu. Cỡ mẫu khảo sát chính thức gồm 144 khách thể đại diện, bao gồm 64 cán bộ quản lý và giáo viên (02 thành viên Ban Giám hiệu, 04 tổ trưởng chuyên môn, 30 giáo viên chủ nhiệm, 28 giáo viên bộ môn) và 80 học sinh thuộc các khối 10, 11, 12. Ngoài ra, tác giả tiến hành điều tra bổ sung trên 68 phụ huynh học sinh khối 10 và 11 để đánh giá môi trường hỗ trợ học tập tại gia đình. Mẫu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện và khách quan cao.

Toàn bộ dữ liệu định lượng được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS 22. Thang đo Likert 4 mức độ được chuẩn hóa tương ứng: Mức 1 (Dưới 1,75 điểm - Yếu / Hoàn toàn không ảnh hưởng), Mức 2 (1,75 đến 2,49 điểm - Trung bình / Không ảnh hưởng), Mức 3 (2,50 đến 3,24 điểm - Khá / Ít ảnh hưởng) và Mức 4 (3,25 đến 4,00 điểm - Tốt / Ảnh hưởng nhiều). Việc lựa chọn SPSS 22 cho phép tính toán chính xác giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, loại bỏ các sai số chủ quan trong đánh giá thực trạng quản lý sư phạm từ tháng 01/2019 đến tháng 08/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa B mang lại các phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học đạt mức đồng thuận rất cao. Có 65,30% cán bộ, giáo viên và học sinh đánh giá việc dạy học tiếp cận năng lực ở mức "rất quan trọng", 34,70% đánh giá "quan trọng". Đáng chú ý, 69,40% khách thể khẳng định đổi mới phương pháp là "rất cần thiết", nâng tổng tỷ lệ nhận thức tích cực lên 99,93%.

Thứ hai, năng lực chuyên môn và hoạt động giảng dạy thực tế của giáo viên còn nhiều khoảng trống. Tiêu chí trình độ chuyên môn đào tạo chuẩn và vững vàng chỉ đạt điểm trung bình 1,599 điểm; công tác chuẩn bị trước giờ lên lớp theo tiếp cận năng lực đạt mức trung bình thấp nhất với 2,090 điểm. Mặc dù việc linh hoạt sử dụng phương pháp tích cực đạt điểm cao nhất trong nhóm này, con số cũng chỉ dừng lại ở mức 2,632 điểm.

Thứ ba, hoạt động học tập và kiểm tra đánh giá chưa đồng bộ. Khả năng tự học và rèn luyện tiếng Anh ngoài giờ của học sinh chỉ đạt mức 1,617 điểm, nề nếp chuyên cần đạt 2,313 điểm. Hoạt động kiểm tra đánh giá theo quy định ngành đạt mức trung bình 2,215 điểm, trong khi việc kiểm tra định hướng phát huy năng lực thực hành chỉ đạt 2,674 điểm.

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy học bộ môn còn nhiều thiếu thốn. Điểm đánh giá chung đạt xấp xỉ mức khá (2,900 điểm), tuy nhiên phòng học lý thuyết đạt chuẩn chỉ ở mức 2,697 điểm và việc thiếu phòng Lab chuyên dụng làm hạn chế cơ hội luyện nghe - nói của học sinh.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa trực quan qua hệ thống 11 bảng thống kê chi tiết và 2 biểu đồ phân tích nhận thức. Kết quả chỉ ra sự mâu thuẫn rõ rệt giữa nhận thức lý thuyết và năng lực hành động thực tế. Dù 99,93% giáo viên và học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới, việc triển khai trên lớp học vẫn bị chi phối bởi phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều.

Nguyên nhân chính xuất phát từ công tác quản lý chuyên môn của Ban Giám hiệu chưa theo sát từng khâu thiết kế bài giảng; công tác dự giờ rút kinh nghiệm còn mang tính hình thức. Đồng thời, môi trường học tập tại gia đình chưa thực sự hỗ trợ khi điểm số phụ huynh thường xuyên trao đổi thông tin học tập với con em chỉ đạt 1,434 điểm. So sánh với các nghiên cứu của Bùi Đức Thiện năm 2016 tại Hà Nam và Trần Thị Nhài năm 2016 tại Hải Phòng, thực trạng tại Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa B phản ánh đúng bức tranh chung của các trường trung học vùng ngoại thành: cơ sở vật chất chưa đồng bộ và giáo viên gặp khó khăn khi chuyển đổi từ kiểm tra ghi nhớ kiến thức sang kiểm tra năng lực hành động.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn tiếng Anh, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ:

Thứ nhất, tái cấu trúc công tác lập kế hoạch và quản lý mục tiêu dạy học. Ban Giám hiệu phối hợp với tổ chuyên môn xây dựng chuẩn đầu ra cụ thể cho 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết). Yêu cầu 100% giáo viên tiếng Anh thiết kế giáo án tích hợp các tình huống giao tiếp thực tế, áp dụng ngay từ đầu năm học 2019-2020 nhằm nâng điểm chuẩn bị bài giảng lên trên mức 3,000 điểm.

Thứ hai, đổi mới sinh hoạt chuyên môn và bồi dưỡng năng lực sư phạm. Ban Giám hiệu tổ chức sinh hoạt chuyên môn định kỳ 2 tuần một lần dựa trên nghiên cứu bài học, huấn luyện kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ thuật dạy học tích cực (thảo luận nhóm, đóng vai, làm việc theo dự án). Mục tiêu nâng điểm đánh giá năng lực tổ chức dạy học của giáo viên từ 1,612 điểm lên trên 3,250 điểm vào năm 2021.

Thứ ba, cải tiến quy trình kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực. Tổ chuyên môn tiếng Anh phải đa dạng hóa hình thức đánh giá: kết hợp kiểm tra trắc nghiệm khách quan với đánh giá sản phẩm học tập, thuyết trình miệng và kỹ năng nghe hiểu. Đảm bảo tỷ lệ đánh giá kỹ năng nghe - nói chiếm tối thiểu 30% tổng điểm kiểm tra thường xuyên trong năm học 2019-2020.

Thứ tư, đầu tư cơ sở vật chất và kiến tạo môi trường ngôn ngữ mở. Nhà trường cần hoàn thiện 01 phòng Lab chuyên ngữ đa năng, bổ sung tài liệu ngoại văn cho thư viện và thành lập Câu lạc bộ tiếng Anh sinh hoạt định kỳ 2 tuần một lần. Tăng cường phối hợp với 68 phụ huynh đại diện các lớp để tạo thói quen tự học ở nhà, hướng tới mục tiêu 85% học sinh tự tin tham gia giao tiếp tiếng Anh vào năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Cán bộ quản lý tại các trường trung học phổ thông. Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng có thể ứng dụng trực tiếp khung tiêu chí quản lý giờ dạy, quy trình kiểm tra hồ sơ chuyên môn và phương pháp đánh giá tiết dạy phát triển năng lực vào thực tiễn quản trị nhà trường.

Thứ tư, Giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Anh. Đội ngũ giáo viên có thể khai thác các gợi ý về thiết kế bài học tích cực, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm và cách thức xây dựng đề kiểm tra đánh giá năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 10, 11 và 12.

Thứ ba, Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng với 144 mẫu khảo sát và mô hình xử lý số liệu bằng SPSS 22, làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học ngoại ngữ theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

Thứ tư, Ban đại diện cha mẹ học sinh và các nhà hoạch định chính sách giáo dục địa phương. Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn về ảnh hưởng của môi trường gia đình đến việc học ngoại ngữ, giúp các cấp quản lý có định hướng đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường liên kết gia đình - nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận khái niệm năng lực tiếng Anh theo cấu trúc nào? Luận văn tiếp cận năng lực tiếng Anh gồm năng lực tiếp nhận (nghe hiểu, đọc hiểu) và năng lực tạo lập (nói, viết), tích hợp trên mô hình 4 thành phần năng lực của Nguyễn Công Khanh và 4 trụ cột giáo dục của UNESCO nhằm phát triển toàn diện kỹ năng giao tiếp thực tế cho học sinh.

Khâu nào trong hoạt động dạy của giáo viên bị đánh giá thấp nhất? Kết quả khảo sát trên 144 khách thể cho thấy khâu chuẩn bị trước khi lên lớp (thiết kế giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học theo tiếp cận năng lực) bị đánh giá thấp nhất với điểm trung bình chỉ đạt 2,090 điểm.

Phương pháp nghiên cứu định lượng của đề tài có độ tin cậy ra sao? Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 22 để phân tích dữ liệu từ 144 phiếu hỏi giáo viên, học sinh và 68 phiếu hỏi phụ huynh. Điểm trung bình và độ lệch chuẩn được kiểm định chặt chẽ theo thang đo Likert 4 mức độ từ 1,00 đến 4,00 điểm, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học.

Biện pháp nâng cao năng lực giáo viên được đề xuất cụ thể như thế nào? Luận văn đề xuất đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực và công nghệ thông tin định kỳ 2 tuần một lần, đặt mục tiêu nâng mức đánh giá năng lực giáo viên lên trên 3,250 điểm vào năm học 2020-2021.

Môi trường gia đình có tác động thế nào đến việc học tiếng Anh của học sinh? Khảo sát trên 68 phụ huynh cho thấy sự tương tác học tập còn rất thấp khi tiêu chí phụ huynh thường xuyên trao đổi thông tin học tập chỉ đạt 1,434 điểm. Luận văn khuyến nghị cần xây dựng góc học tập đạt chuẩn và tăng cường phối hợp định kỳ giữa phụ huynh với giáo viên chủ nhiệm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực tại trường trung học phổ thông.
  • Phân tích thực chứng trên 144 cán bộ, giáo viên, học sinh và 68 phụ huynh tại Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa B chỉ ra nhận thức đổi mới đạt 99,93% nhưng năng lực thực hành chỉ ở mức trung bình khá (2,090 đến 2,674 điểm).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, bồi dưỡng giáo viên, đổi mới kiểm tra đánh giá đến nâng cấp cơ sở vật chất.
  • Lộ trình triển khai cụ thể theo từng giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021 nhằm chuẩn hóa năng lực đội ngũ và nâng cao tỷ lệ đỗ đại học trên 54,4%.
  • Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà quản lý giáo dục trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy ngoại ngữ theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Các trường trung học phổ thông cần nhanh chóng áp dụng khung biện pháp này để tạo bước đột phá về chất lượng dạy học tiếng Anh.