Chương 1 của sách Teaching for Quality Learning at University: * Phiên bản thứ nhất của OBE do William Spady đưa ra năm 1994 nhấn mạnh việc cá th hóa chương trình giảng dạy dành cho các đối tượng “thiệt thòi”. Theo phiên bản này, việc giáo dục trẻ em thiệt thòi không cần thiết phải theo đúng chương trình chu n với các môn học truyền thống, mà cần đưa ra những mục tiêu riêng biệt sao cho mỗi học sinh đều có th đạt được những kết quả (outcomes) nào đó. * Phiên bản cu i cùng của OBE, cũng là phiên bản ph biến trong giới giáo dục, nhắm đến mục đ ch cải thiện việc giảng dạy và học tập trong lớp học. Theo phiên bản này, “kết quả” được hi u là những gì từng người học đã tiếp thu được ở từng môn học.
Đ giúp cho 8 người học đạt được những kết quả mong đợi, vai trò chủ động của giáo viên được xem là cốt lõi, và họ cần có đủ năng lực cũng như quyền hạn đ quyết đ nh lựa chọn các nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp, cũng như các hình thức ki m tra đánh sao cho có th giúp người học đạt được ở mức cao nhất những “kết quả” đã đề ra. Có th thấy OBE chính là một bước phát tri n tất yếu của quan đi m và phương pháp sư phạm lấy người học làm trung t m, vì quan đi m này nhấn mạnh những thay đ i tích cực ở người học tức những kết quả mà người học thực sự đạt được sau quá trình học. Điều này khác hẳn với quan đi m trước đó là chỉ chú trọng vào nội dung giảng dạy, và giáo viên chỉ có trách nhiệm truyền đạt cho hết các nội dung đã chọn mà không cần biết những kết quả đã đề ra cho người học có đạt được hay không. Đ đảm bảo các “kết quả” cho từng môn học có th thực sự đạt được, các giáo viên cần có khả năng xác đ nh các bi u hiện hay hành vi quan sát được (measurable behaviours) làm chứng cứ cho sự thay đ i tích cực của người học sau khi hoàn tất từng môn học hoặc thậm chí từng bài học.
Việc đào tạo giáo viên theo OBE, vì vậy, rất chú trọng việc cung cấp cho họ những kỹ năng viết learning outcomes (LO) sao cho có th đánh giá được một cách chính xác những gì người học đã đạt được sau quá trình học. Theo báo cáo của IEAA - International Education Association of Australia (2013) về kết quả thực hiện 5 năm chương trình: “English Language Competence of International Students”, các nhà tuy n dụng ở Úc cũng như ở các quốc gia khác đều nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực sử dụng tiếng Anh và kỹ năng giao tiếp khi tuy n dụng sinh viên quốc tế tốt nghiệp. Quan trọng hơn, các nhà tuy n dụng vẫn chưa hài lòng về khả năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên quốc tế và mong muốn sinh viên được cải thiện cả hai kỹ năng tiếng Anh và kỹ năng giao tiếp đ đáp ứng được yêu cầu công việc, trong đó kỹ năng viết và khả năng tự tin, lưu loát khi giao tiếp trong môi trường công việc (giao tiếp với các thành viên trong nhóm làm việc, giao tiếp trực tiếp với cấp trên, kỹ năng ứng xử 9 với khách hàng khó tính; giao tiếp qua điện thoại, qua email, .) là rất quan trọng đối với sinh viên tốt nghiệp (graduates). Báo cáo này cũng nhấn mạnh mức độ yêu cầu cao của các nhà tuy n dụng đối với hai kỹ năng nói và viết.
Họ cho rằng đ “sống sót” trong môi trường làm việc thì sinh viên tốt nghiệp phải có kỹ năng giao tiếp tự tin (confident communiacation skills). Kỹ năng viết tự tin và ch nh xác cũng được nhà tuy n dụng đánh giá cao. Họ nhấn mạnh rằng sinh viên tốt nghiệp cần phải có khả năng viết trôi chảy, tự tin với văn phong phù hợp từng tình huống. Từ phản hồi của các nhà tuy n dụng, các t chức đào tạo ở Úc bắt đầu nhìn nhận lại vấn đề chu n đầu ra đối với sinh viên quốc tế.
Họ yêu cầu các chuyên gia khảo thí tiếng Anh cần nghiên cứu kỹ hơn về khả năng sử dụng tiếng Anh trong thực tế công việc vì nếu chỉ đánh giá năng lực ngoại ngữ của sinh viên qua một chứng chỉ quốc tế nào đó thì chưa đầy đủ. Tóm lại, những nghiên cứu, báo cáo trình bày ở trên dù tiếp cận theo những hướng khác nhau đều có mối quan hệ tương quan với nhau và hữu ích cho công tác quản lý HĐDH tiếng Anh đáp ứng đầu ra. Các kết quả nghiên cứu đã cung cấp nhiều lý thuyết và kinh nghiệm về công tác quản lý HĐDH tiếng Anh đáp ứng đầu ra trong các t chức giáo dục nói riêng. Đối với các nghiên cứu trong nước Có khá nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý HĐDH tiếng Anh đáp ứng đầu ra trong các trường học nói chung, trong đó bao gồm các báo cáo khoa học, các bài viết trên các tạp chí, các luận án, luận văn, sách, giáo trình,.của nhiều tác giả từ các đơn v uy tín ở Việt Nam đã có cụ th là: Các nghiên cứu tổng quan về ướng dẫn nghiệp vụ quản lý ĐD tiếng Anh dạng sách và giáo trình giảng dạy của các tác giả n ư Trần K án Đức, Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Qu c Bảo, Vũ T ị Lợi, Nguyễn Hạn Dung, Dương T ị Nụ, Hồ Thị Thanh Hà, Phạm Văn K ải, Đặng Văn ùng.
Trong đó: 10 Trần Khánh Đức (2002) cho rằng người giáo viên, khi thực hiện lao động sư phạm cần có dụng cụ và phương tiện dạy học phù hợp với tính chất, nội dung và môi trường lao động, tùy thuộc vào từng cấp học, loại hình trường và nghề đào tạo mà phương tiện dạy học cần được điều chỉnh phù hợp với thực tế trường. Cũng theo Trần Khánh Đức (2002), phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ, chúng có vai trò thay thế cho các sự vật, hiện tượng và một số quá trình của cuộc sống; phương tiện dạy học giúp các chức năng tư duy trong não người được tạo điều kiện phát huy hết khả năng Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006) đã t ng quan về quản lý và quản l nhà nước trong giáo dục cũng được nhóm tác giả trình bày cụ th. Các phần mục mục quản lý bao gồm như: quản l trường học, chất lượng giáo dục, thiết b dạy học. Nhóm tác giả đã khái quát các nguyên tắc, biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường và phân loại một số nhóm thiết b dạy học.
Bên cạnh đó, còn có các tác giả như Vũ Th Lợi, Nguyễn Hạnh Dung, Dương Th Nụ, Hồ Th Thanh Hà, Phạm Văn Khải, Đặng Văn Hùng đã nghiên cứu về cải tiến hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng Anh, quan t m đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ quản l cho đội ngũ CBQL các trường ph thông, TCCN, ĐH và đưa ra các biện pháp chung nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Các bài nghiên cứu, bài tham luận, báo cáo trong các hội thảo quản lý ĐD tiếng Anh không chuyên ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp của tác giả và nhóm tác giả n ư: Hội thảo báo cáo của Võ Nguyễn Hồng Lam và Lê Hoàng Duy Thuần có tên “N ng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ không chuyên đại học Nha Trang (2018)”, nhóm tác giả dã khảo sát nguyên nhân ảnh hưởng việc học tiếng Anh của sinh viên không chuyên tiếng Anh. Báo cáo khoa học về công tác QL tập trung vào 2 nội dung: vai trò, mối quan hệ với nghiên cứu khoa học và đào tạo ở các trường đại 11 học và khảo sá thực trạng, gợi ý các giải pháp, phương thức t chức đối với nghiên cứu khoa học, đào tạo ở bậc đại học. Yếu tố đặc đi m của người học như động cơ và thái độ học tập, nhu cầu của người học, chiến lược học tập ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tiếng Anh của sinh viên.
Đa số sinh viên không chuyên ngữ học tiếng Anh với mong muốn vượt qua các bài ki m tra, hoàn thành các kỳ thi đ đủ điều kiện xét tốt nghiệp. Hội thảo báo cáo của Bùi Th Diệu Quyên có tên “Chương trình tiếng Anh tăng cường theo lộ trình của đề án ngoại ngữ quốc gia 2020” do ĐH Sư phạm TPHCM t chức năm 2017, quan niệm rằng trình độ tiếng Anh của SV không đồng đều và chênh lệch, song song đó có khá nhiều em gặp trở ngại về phát âm, không th nghe, nói được nên e ngại, lo sợ việc học ngoại ngữ. Tác giả còn phân tích rào cản, thách thức trong việc dạy tiếng Anh cho SVHS không chuyên ngữ. Các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thực trạng, giải p áp để quản lý ĐD tiếng Anh không chuyên ở các trường CĐ, TC đáp ứng đầu ra của các tác giả Lê Khắc P ương Anh, Trần Huy Hùng, Nguyễn Thị N ư oa, Lê Văn ùng, Trần Thị Bình, Lê Thị ương Mai.
Trong đó: Luận văn thạc sĩ QLGD của tác giả Lê Khắc Phương Anh (2008), đề tài có tên “Các biện pháp nhằm nâng cao khả năng giao tiếp tiếng Anh cho sinh viên” đã khảo sát, phân tích thực trạng quản lý, từ đó đề xuất biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ cho giảng dạy và học tập ở các trường. Tác giả đã so sánh những đòi hỏi của th trường lao động, khả năng vận dụng tiếng Anh trong thực tế của SV và kết luận chung về hoạt động đào tạo ngoại ngữ trong các trường ĐH, CĐ, TC ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ Giáo dục học quản lý giáo dục của tác giả Trần Huy Hùng (2012) “Thực trạng quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại các trường TCN TP HCM” , tác giả nêu ra 12 thực trạng học và dạy tiếng Anh ở Việt Nam còn chưa được tốt, theo tác giả là do 03 nguyên nh n là đội ngũ GV, giáo trình giảng dạy và trang thiết b giảng dạy và học tập. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Th Như Hoa (2016) “Quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Đ nh đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ”, tác giả đã nêu lên vấn đề một số nguyên nh n là đầu vào quá chênh lệch, chương trình đơn điệu, cơ chế rườm rà, gò bó.
Trình độ tiếng Anh của đa số SV ở các trường hiện chưa đáp ứng được những nhu cầu của th trường lao động trong nước và cả quốc tế.