Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học thực hành các môn khoa học tự nhiên ở các trƣờng THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học thực hành các môn khoa học tự nhiên ở các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành các môn khoa học tự nhiên ở các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƢỜNG THPT 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài - Trong lịch sử nhân loại, tƣ tƣởng quản lý đã xuất hiện từ sớm, trong giai đoạn đầu nó đƣợc con ngƣời quan tâm nhiều khi có sự xuất hiện của các nhà nƣớc. - Từ thời cổ đại, nhất là ở Trung hoa và Ấn Độ đã sớm xuất hiện tƣ tƣởng về quản lý. + Khổng Tử (551- 479 TCN) xem hành động DH chính là quản lý vì nó nhằm tạo ra ngƣời quân tử, ông là một nhà giáo dục đã tổng kết đƣợc rất nhiều kinh nghiệm trong phƣơng pháp DH là “Dùng cách giợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp nhƣng vẫn đòi hỏi ngƣời học phải tích cực suy nghĩ, phải luyện tập, phải hình thành nề nếp thói quen trong học tập”.
Về phƣơng pháp quản lý, Khổng Tử đặc biệt đề cao phƣơng pháp giáo hóa. Khổng Tử là ngƣời phản đối phƣơng pháp dùng mệnh lệnh trong quản lý và đề cao phƣơng pháp giáo hoá. Ông nói: Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng thì dân sợ mà chẳng đã phạm pháp đó thôi, .… - Ở phƣơng Tây, các tƣ tƣởng quản lý thời cổ đại đƣợc đồng nhất với quản lý nhà nƣớc. Các đại biểu chủ yếu bàn đến cách thức tổ chức và hoạt động của nhà nƣớc.
Các tƣ tƣởng quản lý trong thời kỳ này cũng hoà trộn với các tƣ tƣởng về triết học, đạo đức và pháp lý. - Đối với DH thực hành, trên thế giới ở mỗi quốc gia có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ công nghệ văn minh khác nhau nên việc tổ chức DH thực hành ở các quốc gia cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều bố trí và xem trọng việc DH thực hành đối với các môn KHTN ở các trƣờng THPT. + Ở Nhật Bản: Chƣơng trình các môn Khoa học của Việt Nam và Nhật Bản không có những khác biệt lớn, nhƣng nội dung trong sách của Nhật Bản đều sâu hơn về bản chất và quan trọng nhất là luôn hƣớng cho HS tự tìm tòi, rút ra kết luận của riêng mình thông qua việc hƣớng dẫn HS làm quen với việc tự nghiên cứu từ lớp 3.
Về cách tiếp cận, HS đƣợc trực tiếp tham gia vào các thí nghiệm, tự mình rút ra đƣợc các kết luận và giải thích đƣợc các hiện tƣợng trong cuộc sống. Chƣơng trình các môn học đều quan tâm nâng cao năng lực suy nghĩ, sáng tạo của các em hơn là hƣớng dẫn các em tìm ra những kết quả cụ thể một cách máy móc. Rất coi trọng thực hành và vận dụng kiến thức đã học vào đời sống. 6 + Ở Hoa Kỳ: Đất nƣớc Hoa Kỳ đƣợc xem là cƣờng quốc số 1 thế giới.
Nơi hội tụ của rất nhiều trƣờng đại học, trung tâm nghiên cứu nổi tiếng và những ngƣời thành công nhất thế giới. Trong danh sách 10 trƣờng đại học thống trị bảng xếp hạng thì Mỹ chiếm tới 5 trƣờng: Yale, Princeton, Caltech, Standford, Harvard, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Khác với cách dạy chú trọng vào điểm số của các nƣớc khác, ngƣời Mỹ quan tâm đến việc phát triển tƣ duy và nhận thức của trẻ. Lên lớp ít, tự học, tự tìm hiểu, tƣ duy nhiều đã làm cho HS biến các kiến thức học đƣợc trên lớp thực sự thành kiến thức của mình.
Ngoài ra không chỉ là lý thuyết suông, các giáo sƣ thƣờng cố gắng áp dụng việc “Học” vào thực tế, điều này cũng giúp HS hiểu sâu và nhớ lâu. + Ở Pháp: chất lƣợng giáo dục tốt và nền giáo dục là một trong những điểm mạnh của các trƣờng học Pháp. Điều này đã đƣợc công nhận trên rất nhiều trang báo và tạp chí giáo dục, nhất là trong lĩnh vực quản lý. Nghiên cứu khoa học tiên tiến, ngoài chất lƣợng giáo dục tốt, thì điểm mạnh của nền giáo dục Pháp là nền tảng khoa học tiên tiến, với vô số các giải thƣởng lớn về nghiên cứu khoa học, trong đó có rất nhiều giải Nobel.
Mặt khác, nƣớc Pháp cũng có rất nhiều các trƣờng đại học đào tạo phƣơng pháp nghiên cứu vô cùng tốt. Hầu hết tại các trƣờng học đều có các phòng thí nghiệm quy mô lớn, chất lƣợng tốt cho HS. Giáo dục Pháp coi trọng việc thực hành, chƣơng trình đào tạo và giảng dạy của Pháp đều đƣợc thiết kế với sự tham gia của các chuyên viên, chuyên gia đến từ các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, các chƣơng trình học này có tính ứng dụng và tính thực tế rất cao.
Các nghiên cứu ở Việt Nam - Khoản 2, Điều 7 Luật Giáo dục năm 2019 quy định: Phƣơng pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời học; bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vƣơn lên [18]. Khoản 2, điều 8 Luật này cũng quy định: hƣơng trình giáo dục phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để địa phƣơng và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp; đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế. Chƣơng trình giáo dục là cơ sở bảo đảm chất lƣợng giáo dục toàn diện [18]. - Qua phân tích đặc trƣng của một số nƣớc về hệ thống giáo dục ta thấy hệ thống giáo dục các nƣớc tiên tiến đều hƣớng đến hoạt động trải nghiệm, sáng tạo, nhất là thực hành đối với nhiều môn học, nhất là KHTN.
Hệ thống giáo dục gắn với thực hành sẽ cung cấp cho xã hội, cho thị trƣờng lao động nguồn nhân lực có trình độ cao, năng lực hành cao, sáng tạo, là cơ sở nâng cao năng suất lao động và đáp ứng các nhu cầu 7 khác của xã hội. Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng thực hành các môn KHTN ở trƣờng THPT là hoạt động cốt lõi, trọng tâm phải đƣợc đặc biệt chú ý trong quá trình DH. - Ở nƣớc ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động DH thực hành cũng nhƣ quản lý hoạt động DH thực hành, nhƣ: + Đề tài: “R n luyện cho học sinh kĩ năng tiến hành thí nghiệm trong day hoc Sinh hoc 10 trung hoc phổ thông” – Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Nga năm 2015. + Đề tài: Quản lý quá trình dạy thực hành tại trƣờng Trung cấp nghề Sơn Tây trong giai đoạn hiện nay” – Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Tâm năm 2014.
+ Đề tài: “Quản lý DH thực hành nghề (hệ trung cấp) ở trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên” – Luận văn thạc sỹ của tác giả Tô Văn Khôi năm 2008. - Các công trình trên đã đánh giá đƣợc tầm quan trọng của công tác DH thực hành cho ngƣời học. Cũng các đề tài trên, tác giả đã đánh giá đƣợc những tồn tại, khó khăn trong công tác DH thực hành hiện nay cũng nhƣ một số biện pháp khắc phục khó khăn. Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu trên góc độ kỹ thuật DH thực hành của một môn học cụ thể hoặc quản lý DH thực hành ở trƣờng nghề mà chƣa có đề tài nào đề cập đến công tác quản lý hoạt động DH thực hành ở các trƣờng THPT nên tôi đã chọn vấn đề này để nghiên cứu.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý - Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử hình thành và phát triển của loài ngƣời. Quản lý là dạng lao động đặt biệt, nó đòi hỏi có tính khoa học và nghệ thuật cao; là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội [15]. Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý. - Ở nƣớc ta có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý. + Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: (1) “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, (2) “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. + Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”.
Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đƣa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu ngƣời quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, 8 thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đƣa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mƣu lƣợc, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.
+ Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hƣớng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc những mục tiêu cụ thể” [1]. + Theo nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lí tới đối tƣợng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra” [7].