CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ DỰA VÀO KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Chương trình giáo dục (curriculum) là khái niệm sớm được quan tâm nghiên cứu. Curriculum bắt nguồn từ tiếng La-tinh nghĩa là “trường đua”, “cuộc chạy đua” vì thế mang hàm ý cần có định hướng, quy chuẩn, lề lối, hướng dẫn, v.
được hiểu là chạy, điều hành hoặc “to run a course” - điều hành một khoá học. Do vậy, định nghĩa truyền thống của chương trình giáo dục là “một khoá học” (Course of Study). Không ít nhà tư tưởng cổ đại đã đề cập đến khái niệm ban đầu về bài học, bài giảng trong dạy học. Thời Trung đại, chương trình giáo dục phát triển song hành với việc thực hiện chức năng nghi lễ, tôn giáo do sự chi phối của chủ nghĩa kinh viện và tôn giáo.
Cho tới đầu thế kỉ XX, Montessori với triết lý “giáo dục thực nghiệm” [8] đã đưa ra quan điểm tạo dựng giáo dục và chương trình giáo dục. Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, quan niệm phát triển chương trình, chương trình giáo dục nhà trường có nhiều thay đổi. Ngoài chương trình được nhà nước ban hành, trên thực tế còn có những chương trình giáo dục riêng do các địa phương, các nhà trường chủ động thiết kế các module học tập, chủ đề học tập với nội dung riêng biệt, đặc thù, dựa trên thế mạnh của địa phương, nhà trường đó. Khái niệm địa phương được hiểu một cách rộng rãi, địa phương là thôn xã cụ thể, nhưng cũng có thể là huyện thị, tỉnh, thành phố, hoặc lớn hơn là các vùng miền của một quốc gia.
Giáo dục địa phương liên quan chặt chẽ đến các lý thuyết văn hóa về khu vực, địa phương. Sau những phát kiến địa lý vĩ đại, nhân loại nhận ra tính khu biệt của văn hóa vì thế vấn đề nghiên cứu địa 7 phương học và khu vực học rất phát triển. Những kiến thức được nghiên cứu trong địa phương học, khu vực học dần được chắt lọc, đưa vào giáo dục thông qua dạy học lồng ghép, tích hợp hoặc có những học phần riêng biệt. Tại các quốc gia trên thế giới, nội dung giáo dục địa phương đã được chú trọng và nghiên cứu từ rất lâu.
Việc đưa nội dung giáo dục địa phương vào chương trình dạy học là một cách giúp học sinh tiếp nhận những kiến thức gần gũi, thiết thực, gắn với nền văn hoá, lịch sử của địa phương, của dân tộc nhằm hình thành bản lĩnh, nhân cách con người. Nhờ thế, người học sẽ thoát khỏi được tình trạng xa rời thực tế, thiếu tính cộng đồng, chia sẻ, trách nhiệm. Từ việc trang bị cho học sinh vốn ngôn ngữ, văn học, lịch sử, địa lý, v. nơi mình sinh sống, người dạy sẽ góp phần thúc đẩy, hình thành ở học sinh niềm yêu thích, hứng thú tìm tòi, ý thức lưu giữ và phát huy văn hóa cộng đồng, bản sắc dân tộc.
Đây là điều kiện để hoàn thiện quá trình từ nhận thức đến tự nhận thức, v. E-ren-bua đã nói: “lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê sẽ trở thành lòng yêu Tổ quốc”. Về vấn đề chương trình giáo dục địa phương liên quan chặt chẽ đến các lý thuyết văn hóa về khu vực, về địa phương: Trước thế kỉ XV, châu Âu chưa có những phát kiến địa lí, nên họ tin vào giáo điều của Gia-tô về sự hình thành các dân tộc, đất nước. Sau này người châu Âu nhận ra tính khu biệt của văn hóa vì thế vấn đề nghiên cứu địa phương học và khu vực học rất phát triển.
Các thuyết “khuếch tán văn hóa” ở Tây Âu thế kỉ XIX (A.Bradford, Perxisk), trường phái văn hóa lịch sử ở Đức Áo (W.Rats), trường phái “Age and Area” của Bắc Mĩ, lí thuyết vùng văn hóa của nhân chủng học Hoa Kì (F.Boas), khu vực lịch sử văn hóa (Xô Viết)… đã tạo nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu địa phương học, khu vực học. Qua đó, chương trình giáo dục cũng thừa hưởng thành quả và ý thức được việc tạo dựng nội dung học về địa phương. Đi tiên phong trong lĩnh vực giáo dục về địa phương học là ngành địa 8 lí.Berg (1925) gọi địa phương học là môn địa lí quê hương. Bộ môn địa phương học xem địa lí là trung tâm nhưng rất cần thiết với tất cả các ngành khác.
Từ đó địa phương học chia ra thành địa phương học của nhà nước, địa phương học nhà trường, địa phương học quần chúng. Trong đó, địa phương học nhà trường được hiểu là những hoạt động, nội dung do HS tiến hành nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của GV. Cuốn sách Cẩm nang quốc tế về nghiên cứu chương trình đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu chương trình thế giới và giới thiệu chương trình tiêu biểu của các quốc gia. Cuốn sách có 2 phần: phần 1 giới thiệu về nghiên cứu chương trình thế giới với 4 bài viết, tập trung vào các vấn đề lí luận, hướng tới chương trình và giáo dục toàn cầu.
Phần 2 gồm 24 bài viết về chương trình các quốc gia. Trong đó chương 7 viết về Hướng dẫn Chương trình ở Úc: hướng tới một cây chương trình địa phương của lĩnh vực chương trình. Hướng dẫn chương trình ở Úc được thực hiện từ những năm gần đây. Đầu năm 1980, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng Viện nghiên cứu chương trình (Curruculum Studies Association - ACSA).
Trong chương đó, Bill Green (Charles Stuart University) đã tổng thuật các quan niệm về chương trình và chương trình địa phương ở Úc. Ông điểm qua quan điểm của Bernstein (1975), cho rằng “nguyên tắc cao nhất là cố gắng lựa chọn, tổ chức và đánh giá những gì xã hội coi như kiến thức có giá trị”. Điều này là bởi những kiến thức lựa chọn, nó được dạy ra sao và đánh giá như thế nào trong nhà trường là vấn đề trọng tâm của cá nhân và xã hội”. Moore (2007) cho rằng “những gì chúng ta biết ảnh hưởng đến chúng ta tồn tạ”.
Vấn đề xung quanh chương trình của Úc có mục tiêu là vấn đề nội dung (lựa chọn dạy cái gì) và hình thức (cách tổ chức giờ dạy, lớp học). Quan niệm truyền thống đến đương đại của các nhà giáo dục Úc đều thống nhất chương trình giáo dục có tính chất địa phương, tính hệ thống và tính quốc gia”. Ở Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông được thay đổi rất nhiều 9 lần. Đến tháng 9/1992 chương trình thứ 6 đã được ban hành.
Đến tháng 12/1997 chương trình thứ 7. Chương trình 2007 xây dựng khung. Đến năm 2009, chương trình giáo dục cá nhân, chương trình thử nghiệm 2009, có 4 nội dung: (1) Định hướng cá nhân: sự cân bằng, thể chất, kĩ năng tự chủ động; (2) Sáng tạo cá nhân: kĩ năng cơ bản, suy nghĩ khác nhau về vấn đề, kĩ năng giải thích, kĩ năng quan sát và sáng tạo giá trị mới; (3) Trau dồi cá nhân: văn hóa văn học, hiểu về giá trị cuộc sống; (4) Cá nhân hướng tới trí tuệ nhân loại: kĩ năng cộng đồng. Chương trình 2009 cho phép các trường tổ chức chương trình, cấu trúc giờ học riêng từ 20-35%.
Do đó các trường có thể kéo dài thêm chương trình bằng cách tăng giờ cho âm nhạc, nghệ thuật và giáo dục thể chất hoặc tăng giờ cho những HS kém. Họ cũng dành cho âm nhạc, nghệ thuật, dân tộc học 1 giờ/tuần. Phụ huynh và HS có thể chọn những môn học thiết kế, sử dụng thời gian tăng cường cho việc học hoặc tham gia các hoạt động động đồng phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân. Tác giả Kim Jin Sook, trong bài viết Sự liên hệ giữa sáng tạo và đổi mới: trường hợp chương trình Hàn Quốc đã mô tả sự thay đổi chương trình địa phương theo chương trình quốc gia 2009.
Ông mô tả bằng mô hình vị trí của chương trình quốc gia, địa phương và chương trình nhà trường như sau: Chương trình quốc gia: Bộ giáo dục, khoa học và công nghệ Tổ chức và hướng dẫn bổ sung (17 đơn vị Sở giáo dục Thủ đô và tỉnh, tổ chức điều hành GDĐP) Chương trình cơ bản của nhà trường (11360 trường phổ thông và 8538 trường mầm non) Trong đó, chương trình quốc gia được quyết định và ban hành bởi Bộ Giáo dục. Chương trình giáo dục cấp độ địa phương thiết lập bởi người quản lí, giám sát của GDĐP. Năm 2009 ban hành chương trình quốc gia của Bộ 10 giáo dục. Tuy nhiên điểm thay đổi quan trọng ở chương trình địa phương: Mở rộng khuyến khích chương trình nhà trường.
Cách thức tổ chức của Hàn Quốc như sau: Bộ giáo dục có 2 người phụ trách chương trình địa phương. Mỗi Sở giáo dục tỉnh có khoảng 20 cố vấn cho trường trung học, trong đó cố vấn cho chương trình nhà trường có 2 người, từ đó ở cấp phòng cũng sẽ có nhân sự phụ trách như vậy tạo nên một hệ thống từ trên xuống chịu trách nhiệm giám sát chương trình địa phương và chương trình nhà trường. Những sự thay đổi chương trình nhà trường còn đáp ứng nhiều chính sách của quốc gia. Thậm chí họ còn có giải thưởng trường học xuất sắc “Excellent school, diserve curricula”.
Trong đó chương trình địa phương tập trung vào các vấn đề: (1) Nhiều hoạt động hơn trong phạm vi chương trình và sau chương trình nhà trường (2) Nhiều người tham dự hơn sau chương trình nhà trường (3) Nhiều chương trình giáo dục nghệ nghiệp cho HS cấp 2 1. Những nghiên cứu trong nước Chương trình giáo dục địa phương có thể do nhà nước ban hành hoặc do các cơ sở giáo dục biên soạn, đề xuất và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đó là cơ sở để biên soạn tài liệu, hướng dẫn học tập, tổ chức các hoạt động học tập để đạt mục tiêu giáo dục. Căn cứ vào đó, giáo viên tùy hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương nơi mình công tác để xây dựng nội dung cho bài học này một cách phù hợp và thuận tiện cho giảng dạy.
Ở Việt Nam, việc đưa nội dung giáo dục địa phương vào chương trình giáo dục nhà trường không phải là quá mới mẻ, xa lạ. Ban đầu, chương trình và sách giáo khoa không có quy định riêng biệt bài học, nội dung địa phương mặc dù những đơn vị kiến thức liên quan đến địa phương đã có mặt trong sách giáo khoa các môn học. Từ những năm 2000, chương trình phổ thông chính thức đưa vào thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Trong đó, cấp THCS có phân phối hơn 30 tiết học cho chương trình địa phương đối với các môn Ngữ văn, Lịch 11 sử, Địa lý.