Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, nội dung giáo dục địa phương đã được chú trọng từ rất lâu. Các vấn đề về giáo dục cộng đồng có liên quan chặt chẽ đến các lý thuyết văn hóa của vùng và địa điểm, đồng thời cung cấp cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu về địa điểm và nghiên cứu khu vực.
Nhật Bản rất chú trọng giáo dục quê hương, khởi nguồn là tác phẩm “Sách địa lý quê hương” được xuất bản năm 1880 (năm Minh Trị thứ 13). Nhờ giáo dục quê hương, nhà trường đã trở thành một trung tâm văn hóa của địa phương và có vai trò thiết thực trong việc thúc đẩy các hoạt động học tập suốt đời. Ở Hàn Quốc, nội dung giáo dục khu vực được phát triển phù hợp với chương trình giảng dạy. Năm 2009, Bộ Giáo dục đã công bố chương trình giáo dục quốc gia, nhưng thay đổi lớn nhất liên quan đến các chương trình địa phương.
Nội dung giáo dục khu vực của các trường học đã được mở rộng để bao gồm các chương trình giáo dục cá nhân, chương trình thí điểm phát triển cá nhân năm 2009: định hướng cá nhân (cân bằng, thể lực, kỹ năng chủ động), sáng tạo cá nhân (kỹ năng cơ bản, suy nghĩ khác biệt về vấn đề, kỹ năng giải thích, kỹ năng quan sát, kỹ năng và sáng tạo giá trị mới), phát triển cá nhân (văn hóa văn học, hiểu biết về giá trị cuộc sống) và cuộc sống cá nhân hướng tới trí tuệ con người (kỹ năng cộng đồng). Chương trình giáo dục là cơ sở để biên soạn tài liệu, hướng dẫn học tập và tổ chức các hoạt động học tập nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Trên căn cứ đó, nội dung giáo dục địa phương là được xây dựng nhằm bổ sung tăng cường cho chương trình chính thức môn học, chú ý đến tính thực tiễn trải nghiệm của người học, gắn bó với cộng đồng. Trên cơ sở chương trình, nội dung giáo dục địa phương sẽ được 7 phân ra thành các chủ đề.
Trong mỗi chủ đề, các đơn vị kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Mỗi đơn vị kiến thức dẫn đến việc học tập thông qua các cấu trúc cụ thể, chẳng hạn như hoạt động cá nhân và nhóm, tương tác giữa giáo viên và học sinh, gia đình, v., trường học, trường học và cộng đồng. Các nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam, Luật Giáo dục 2019 quy định: Quy định yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của người học. Phạm vi và cấu trúc của nội dung giáo dục.
phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; Cách đánh giá kết quả giáo dục của các môn học ở từng cấp học, cấp học hoặc các môn học, học phần, chuyên ngành ở từng cấp học. ” Tính đến nhu cầu, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hóa quốc tế, Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 nhằm đào tạo học sinh tiếp thu và phát triển các phẩm chất, kỹ năng thông qua nội dung giáo dục. Việc xây dựng các mô hình giáo dục địa phương cho học sinh các trường phổ thông càng trở nên cấp thiết. Mô hình dạy học học sinh địa phương có thể giúp giáo viên dễ dàng áp dụng, lựa chọn mô hình phù hợp để tổ chức dạy học theo đặc điểm học sinh và tình hình thực tế của nhà trường, đạt hiệu quả mục tiêu dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.
Vì vậy, cần có sự hệ thống và kế thừa các công trình nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước để làm cơ sở xây dựng và đề xuất các mô hình giáo dục địa phương cho học sinh phổ thông phù hợp với thực tiễn của từng địa phương. Xây dựng nội dung giáo dục địa phương có nghĩa là phát triển các chương trình giáo dục cho trường học. Ở nước ta, việc phát triển chương trình nhà trường cũng được nhiều chuyên gia giáo dục trong nước nghiên cứu và đề cập đến trong các tài liệu khoa học. cụ thể như: - Những vấn đề cơ bản về chương trình và phát triển chương trình dạy học - Nguyễn Văn Hộ (2007).[22] 8 - Lý thuyết phát triển chương trình - Tài liệu giảng dạy cao học quản lý giáo dục - Phạm Hồng Quang (2008) [27] - Phát triển chương trình giáo dục (2017)- Nguyễn Đức Chính (chủ biên) [16] Từ việc nghiên cứu nội dung giáo dục địa phương trong nước và ngoài nước, tôi nhận thấy sự cần thiết phải nghiên cứu xây dựng nội dung giáo dục địa phương để dạy học trong nhà trường cấp Trung học cơ sởBởi nội dung giáo dục địa phương còn góp phần hình thành năng lực, phẩm chất của học sinh theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.
Ngoài ra, nội dung giáo dục địa phương còn phát triển các năng lực của học sinh như thích ứng với cuộc sống, lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động, định hướng nghề nghiệp, tìm hiểu về tự nhiên, xã hội theo nhu cầu phát triển của xã hội. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Quản lý Quản lý là một trong những đặc điểm cơ bản và cổ xưa nhất của con người, nó phát triển cùng với sự phát triển của con người. Quản lý là hoạt động quan trọng và vô cùng cần thiết đối với mọi lĩnh vực của đời sống con người và là nhân tố của sự phát triển xã hội.
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý: Mary Parker Follett (1868-1933) đã có đóng góp to lớn trong lý thuyết hành vi trong quản lý cho rằng: “Quản lý là một quá trình làm việc, liên tục, kế tiếp nhau, không tĩnh tại. Chester Irving Barnard (1886-1961) nghĩ: “Vai trò chính của người quản lý là giao tiếp với cấp dưới và thúc đẩy họ cố gắng hết sức để đạt được mục tiêu của tổ chức. Quản lý hiệu quả phụ thuộc vào việc duy trì mối quan hệ tốt với những người bên ngoài tổ chức cũng như những người mà người quản lý thường xuyên liên lạc. Nghiên cứu khoa học quản lý, tác giả: Nguyễn Quốc Chi, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động quản lý có “tác động quyết định phương hướng và ý định của chủ thể quản lý (người quản lý) trong mối quan hệ với đối 9 tượng quản lý (người được quản lý) trong một tổ chức để vận hành tổ chức và đạt được các mục tiêu của tổ chức” [14/tr1].
Chúng ta có thể khẳng định: quản lý không chỉ là một môn khoa học mà còn là một nghệ thuật. Quản lý là một khoa học vì hoạt động quản lý luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng và dựa trên các quy tắc, nguyên tắc và phương thức hoạt động chính xác. Chỉ khi con người nhận thức chính xác quy luật này thì đặc điểm của mỗi cá nhân và đặc điểm tâm lý khác nhau thì tác động quản lý mới có hiệu quả. Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì quản lý là một hoạt động thực hành với những thực tiễn vô cùng đa dạng và luôn thay đổi.
Người quản lý phải có khả năng xử lý mọi tình huống một cách linh hoạt và thành công để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả, điều này phụ thuộc vào bí quyết tổ chức nguồn lực, nghệ thuật ứng xử, giao tiếp và khả năng thuyết phục, nâng cao nhận thức của người quản lý. Vì vậy, trong quản lý, không chỉ tuân theo những nguyên tắc, quy định theo một công thức cố định mà còn phải xử lý tình huống một cách linh hoạt, linh hoạt. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục tiêu của các cơ quan quản lý ở các cấp trên mọi mặt của toàn hệ thống nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa của giáo dục và hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Dựa trên sự hiểu biết và vận dụng các quy luật xã hội, các quy luật của quá trình giáo dục để phát triển thể chất và tinh thần của con người.
Hiểu một cách tổng quát, quản lý giáo dục là việc quản lý, tổ chức các nguồn lực xã hội nhằm thúc đẩy quá trình đào tạo của thế hệ trẻ và đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý giáo dục: Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là một hoạt động có ý thức thông qua việc các nhà quản lý giáo dục áp dụng các quy tắc khách quan để tác động lên toàn bộ hệ thống giáo dục để hệ thống đạt được mục tiêu đề ra”. 10 Tác giả Phạm Viết Vượng đã viết trong cuốn sách “Giáo dục học” của mình: “Mục tiêu cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục hiệu quả và bồi dưỡng một nhóm thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động và độc lập, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của mình và của người khác”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, để hoạt động dạy học của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong đợi một cách hiệu quả nhất”.
Tóm lại, mặc dù có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục nhưng bản chất của nó vẫn là quá trình tác động định hướng của nhà quản lý lên các yếu tố tham gia vào quá trình đạt được mục tiêu giáo dục một cách hiệu quả. Các yếu tố tham gia vào quá trình giáo dục là mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, thế mạnh giáo dục, đối tượng giáo dục và phương tiện giáo dục. Quản lý nhà trường Nhà trường là chủ chốt của hệ thống giáo dục. Phần lớn các hoạt động giáo dục được thực hiện trong bối cảnh của nhà trường thông qua cấu trúc hệ thống giáo dục.
Nhà trường có vai trò như một tế bào hạt nhân trong hệ thống giáo dục, đó là liên kết quan trọng từ trung ương đến cơ sở. Tác giả Phạm Minh Hạc cho biết: “Quản lý nhà trường Việt Nam thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, bảo đảm nhà trường hoạt động theo nguyên tắc giáo dục nhằm đạt mục tiêu, mục tiêu giáo dục.