phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƢỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của giáo viên Nghiên cứu về phát triển năng lực cho GV nói chung và phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên đến nay đã được một số tác giả nghiên cứu.
Trong phạm vi đề tài đề cập đến một số nghiên cứu dưới đây: Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông. Uỷ ban quốc gia chuẩn nghề dạy học (National Board for Professional Teacher Standards - NBPTS) - được thành lập năm 1987 - đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng: (i) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học của họ (Teachers are Committed to Students and Their Learning); (ii) Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình (Teachers Know the Subjects They Teach and How to Teach Those Subjects to Students); (iii) Giáo viên phải có trách nhiệm quản lí và hướng dẫn học sinh học tập (Teachers are Responsible for Managing and Monitoring Student Learning); (iv) Giáo viên phải suy nghĩ một cách hệ thống về thực tế hành nghề của họ và học tập qua trải nghiệm (Teachers Think Systematically about Their Practice and Learn from Experience); (v) Giáo viên phải là thành viên của cộng đồng học tập (Teachers are Members of Learning Communities). Dựa vào 5 đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang đã xây dựng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông của bang mình [46]. Tại Vương quốc Anh: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên của Anh (2007) được cấu trúc gồm 3 phần (lĩnh vực) có liên quan lẫn nhau, đó là: Những đặc trưng nghề nghiệp; (ii) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp’ (iii) Các kĩ năng nghề nghiệp.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên: Giáo viên mới vào nghề (Q): (33 yêu cầu); Dành cho tất cả giáo 6 viên (C): (41 yêu cầu); Giáo viên trong thang bậc trả lương cao (P): (10 yêu cầu); Giáo viên giỏi (E): (15 yêu cầu); Giáo viên có kĩ năng cấp cao (chuyên gia) (A): (3 yêu cầu). Trong phần này, xin giới thiệu những tiêu chuẩn và yêu cầu nghề nghiệp dành cho tất cả giáo viên (loại C): 1. Những đặc trưng nghề nghiệp: Mối quan hệ với học sinh; Phạm vi làm việc; Giao tiếp và làm việc cùng với người khác; Sự phát triển chuyên môn của cá nhân 2. Kiến thức và sự am hiểu chuyên môn: Dạy và học; Đánh giá và giám sát; Môn học và chương trình; Biết đọc, biết tính toán và công nghệ thông tin; Kết quả và sự đa dạng; Sức khỏe và hạnh phúc 3.
Các kĩ năng nghề nghiệp: Lập kế hoạch; Giảng dạy; Đánh giá, giám sát và phản hồi; Xem xét lại quá trình dạy và học; Môi trường học tập; Làm việc nhóm và phối hợp [45]. Theo Cộng hòa liên bang Đức: Theo nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá Giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo giáo viên là những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng. Theo đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của người giáo viên là: (i) Giáo viên là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học; (ii) Giáo viên phải ý thức được rằng nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường; (iii) Giáo viên thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm.
Muốn vậy họ phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chẩn đoán; (iv) Giáo viên liên tục phát triển các năng lực nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong hoạt động nghề nghiệp; (v) Giáo viên tham gia xây dựng một nền văn hoá học đường khuyến khích học tập. Mười năng lực nghề nghiệp của giáo viên (áp dụng từ đầu năm học 2005 - 2006) được trình bày thành 4 lĩnh vực: 1. Năng lực dạy học: (1) Xây dựng kế hoạch bài học và thực hiện giờ lên lớp phù hợp với yêu cầu chuyên môn; (2) Hỗ trợ việc học của học sinh bằng cách tổ chức các tình huống học tập, động viên học sinh thiết lập các mối liên hệ và áp dụng cái đã học; (3) Khuyến khích học sinh tự quyết định trong các hoạt động học tập; 7 2. Năng lực giáo dục (nghĩa hẹp): Hiểu các điều kiện sống của học sinh về xã hội, văn hóa và tác động đến sự phát triển nhân cách học sinh trong khuôn khổ nhà trường; Truyền đạt các giá trị và chuẩn mực, hỗ trợ việc đánh giá và hành động tự quyết của học sinh; Tìm ra giải pháp cho các khó khăn và xung đột trong nhà trường, trong giờ học.
Đánh giá: (7) Chẩn đoán các tiền đề học, quá trình học, khuyến khích học sinh học có mục đích, tư vấn cho học sinh và cha mẹ học sinh; (8) Nắm vững thành tích học tập của học sinh trên cơ sở các thước đo minh bạch.L Abdulgalimov năng lực của người giáo viên bao gồm: năng lực xã hội, năng lực SP và năng lực chuyên môn. Trong đó, năng lực xã hội đóng vai trò là cơ sở cho năng lực SP và năng lực chuyên môn. Tác giả cho rằng, ở trình độ tối ưu, ba loại năng lực này tạo thành một tam giác và nếu trạng thái cân bằng này bị phá vỡ, thì cấu trúc năng lực của người giáo viên sẽ bị lệch đi theo các hướng khác nhau [30, tr. Ở Nhật Bản, quốc gia phát triển vào bậc nhất của Châu Á đặc biệt chú trọng việc bồi dưỡng, đào tạo lại trong phát triển năng lực của giáo viên và CBQL (cán bộ quản lí) giáo dục.
Ở quốc gia này có quy chế bồi dưỡng bắt buộc hàng năm đối với giáo viên. Tùy theo điều kiện thực tế của mỗi cơ sở giáo dục và của từng cá nhân mà có kế hoạch, nội dung, phương pháp bồi dưỡng khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển [28, tr. Trong phần dưới đây có đưa ra, năng lực giáo dục học sinh của người giáo viên bao gồm: 1. Những đặc trưng nghề nghiệp: Mối quan hệ với học sinh; Phạm vi làm việc; Giao tiếp và làm việc cùng với người khác; Sự phát triển chuyên môn của cá nhân; xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên; 2.
Kiến thức và sự am hiểu chuyên môn: Dạy và học; Đánh giá và giám sát; Môn học và chương trình; Biết đọc, biết tính toán và công nghệ thông tin; Kết quả và sự đa dạng; Sức khỏe và hạnh phúc; 3. Các kĩ năng nghề nghiệp bao gồm: Lập kế hoạch; Giảng dạy; Đánh giá, giám sát và phản hồi; Xem xét lại quá trình dạy và học; Môi trường học tập; Làm việc nhóm và phối hợp. 8 Theo Bernd Meier (2005), mô hình cấu trúc năng lực gồm 4 thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực tự hoàn thiện. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra mô hình năng lực SP của người giáo viên bao gồm: năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán, đánh giá, năng lực tư vấn, năng lực đổi mới và phát triển nghề nghiệp [21, tr.
Tác giả Đặng Thành Hưng nghiên cứu về năng lực của giáo viên dưới góc độ quá trình hoạt động giáo dục-giáo dục, tác giả trình bày thành các nhóm năng lực sau: Nhóm năng lực nhận biết, hiểu học sinh trong quá trình dạy học - giáo dục; Nhóm năng lực xây dựng các dự án, kế hoạch dạy học - giáo dục; Nhóm năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học - giáo dục; Nhóm năng lực giám sát, đánh giá hoạt động dạy học - giáo dục; Nhóm năng lực nghiên cứu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học - giáo dục; Nhóm năng lực tự bồi dưỡng; năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội [23, tr. Những nghiên cứu về năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Nguyễn Văn Trung (2013), “Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong quản lí hoạt động của học sinh trường trung học phổ thông tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu”… [40]. Các nghiên cứu trên bàn trực tiếp đến quản lí sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhưng cũng đề cập đến thực trạng mối quan hệ, sự phối hợp tay ba trong giáo dục ở các trường, địa phương được lựa chọn nghiên cứu, trong đó có gián tiếp nghiên cứu về năng lực xây dựng, phối hợp nhà trường - gia đình và xã hội ở người giáo viên phổ thông. Tác giả Trần Thị Hải Yến (2015) thực hiện luận án với đề tài “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên của trường Trung học phổ thông theo chuẩn chức danh nghề nghiệp”.
Tác giả đã làm rõ yêu cầu năng lực nghề nghiệp của GVTHCS, vai trò của tổ chuyên môn, của HT trong bồi dưỡng GV, đề xuất các biện pháp quản lí của hiệu trưởng, trong đó nhấn mạnh hiệu trưởng phải phát huy vai trò của tổ chuyên môn, lấy tổ chuyên môn làm nòng cốt để bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV [41]. Tác giả Phan Thị Lan trong nghiên cứu “Phát triển năng lực xây dựng mối 9 quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên Trường Trung học cơ sở Bắc Bình huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh phúc” cho thấy: Cán bộ quản lí và giáo viên Trường THCS Bắc Bình huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nhận thức và đánh giá rất cao tầm quan trọng và năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội và công tác phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ này cho giáo viên của hiệu trưởng và các chủ thể quản lí trong trường THCS Bắc Bình. Năng lực xây dựng mối quan hệ này cho giáo viên nhà trường được đánh giá ở mức độ khá tốt. Công tác phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên nhà trường ở mức độ khá tốt.