phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn THCS Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Uông Bí, Quảng Ninh Chƣơng 3: Biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học môn Ngữ văn THCS trên địa bàn thành phố Uông Bí, Quảng Ninh 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ những thập niên cuối của thế kỉ XX, quản lí giáo dục từ chỗ là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ, phụ thuộc vào các bộ môn khoa học khác đã trở thành một lĩnh vực có lý luận riêng. Bước sang thế kỷ XXI, khoa học QLGD đạt được những thành tựu đáng kể với sự ra đời của Kinh tế học giáo dục, Xã hội học giáo dục, Lý luận quản lí nhà trường. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù khoa học QLGD còn non trẻ nhưng đã có bước phát triển nhanh chóng về cả cơ sở lý luận và thực tiễn với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về QLGD, quản lí nhà trường như: "Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục" của tác giả Phạm Minh Hạc; "Tâm lý học giáo dục", "Quản lí lãnh đạo nhà trường thế kỷ 21", "Quản lí giáo dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc; "Quản lí sự thay đổi vận dụng cho QLGD và nhà trường" tác giả Đặng Xuân Hải.
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục của đất nước, khoa học nghiên cứu về QLGD, quản lí nhà trường càng phát huy vai trò đặc biệt quan trọng. Nghiên cứu về QLGD, cụ thể là quản lí hoạt động dạy học đã thực sự trở thành mối quan tâm của nhiều nhà giáo dục. Bởi qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, các nhà giáo dục mới có thể quản lí tốt nhà trường, nâng cao chất lượng dạy và học. Nếu trước đây, các công trình nghiên cứu thường đi sâu vào lý luận QLGD nói chung.
Thì hiện nay, lý luận về QLGD đã chú ý đến phương diện QL HĐDH một bộ môn cụ thể ở trường phổ thông. Trong nhà trường phổ thông, Ngữ văn là môn học có tính đặc thù riêng. Nhiều chuyên gia giáo dục đã nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Ngữ văn như: “Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS” của tác giả Nguyễn Thanh Hùng - NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2007; “Lý luận văn học - Tập 1” do giáo sư Trần Đình Sử chủ biên, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2008; “Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THCS”, tác giả Nguyễn Thuý Hồng, Nguyễn Quang Ninh, NXB Giáo dục, Hà Nội năm 2008; Tài liệu “Hội thảo đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở trường PT” và “Tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh - môn Ngữ văn cấp THCS” (Lưu hành nội bộ - Bộ GD&ĐT, 2014). 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc biệt, khi nghiên cứu về Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn các trường THCS, chúng tôi nhận thấy đã có một số luận văn Thạc sĩ tiêu biểu đề cập đến vấn đề này như: Những biện pháp quản lí dạy học môn văn ở trường trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn - TP Hải Phòng, tác giả Đỗ Văn Tuấn; Biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn ngữ văn tại trường THCS Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội, tác giả Phạm Thị Thanh Thủy.
Biện pháp quản lí mà các tác giả đề xuất khá toàn diện, phong phú (như: quản lí hoạt động xây dựng và thực hiện kế hoạch, quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên, quản lí hoạt động học tập của học sinh, quản lí việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học của tác giả Phạm Thị Thanh Thủy; xây dựng kế hoạch giảng dạy và học tập, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, xây dựng nề nếp, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, chỉ đạo đổi mới phương pháp, tăng cường hoạt động tham quan ngoại khoá, kiểm tra đánh giá của tác giả Đỗ Văn Tuấn). Tuy nhiên, với các trường THCS ở thành phố Uông Bí - Quảng Ninh, thì những biện pháp này chỉ mang tính tham khảo, bởi những tính chất, đặc thù riêng biệt. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí, chức năng của quản lí, biện pháp quản lí 1.
Quản lí QL là một hiện tượng xã hội, một phạm trù khách quan, một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới góc độ khác nhau.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng”. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan điểm: QL là HĐ “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[28, tr1].
Hiện nay, khái niệm về “quản lí” được cụ thể như sau: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ các quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm QL là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL (đối tượng QL) nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Đề cập đến khái niệm QL, ta cần chú ý các yếu tố sau: - Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động QL, trả lời câu hỏi: Ai QL? - Khách thể QL: là những đối tượng tiếp nhận các tác động QL. + Khách thể QL có thể người, trả lời câu hỏi: QL ai? + Khách thể QL có thể là vật, trả lời câu hỏi: QL cái gì? + Khách thể thể QL là việc, trả lời câu hỏi: QL việc gì? - Mục tiêu QL: là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động QL lên đối tượng QL.
Trong xã hội hiện đại, vai trò của quản lí đã được thừa nhận là nhân tố then chốt đảm bảo cho sự thành công và phát triển. Tuy nhiên, nội dung của hoạt động QL ngày càng đa dạng phong phú, quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định cứng nhắc mà phải mềm dẻo, linh hoạt. Vì vậy, QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Chức năng của quản lí Chức năng của QL là những nội dung và PPHĐ cơ bản mà nhờ đó chủ thể QL tác động lên đối tượng QL trong quá trình QL, nhằm thực hiện mục tiêu QL.
QL bao gồm các chức năng sau: - Chức năng kế hoạch hóa: là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những sự thay đổi có thể đoán trước cũng như những thay đổi không chắc chắn trong tương lai. - Chức năng tổ chức: xác định các công việc cần phải thực hiện, những người thực hiện các công việc đó, định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ quyền hạn của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân, mối liên hệ giữa các bộ phận các cá nhân, các tổ chức; giúp các thành viên trong tổ chức phát huy năng lực, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ. - Chức năng lãnh đạo: là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẵn sàng, cố gắng, hăng hái hướng tới việc hình thành các mục tiêu; bao gồm “việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức”. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chức năng kiểm tra: là phương thức HĐ của nhà QL tác động lên đối tượng bị QL nhằm thu thập thông tin, đánh giá và xử lí các kết quả vận hành của tổ chức; xác định kết quả đã đạt được trên thực tế, so sánh đối chiếu với mục tiêu đã đề ra, thu thập các thông tin phản hồi nhằm phát hiện sai lệch và đề ra chương trình hành động khắc phục những sai lệch đó, thực hiện mục tiêu, kế hoạch đã đề ra.
Bốn chức năng trên tạo thành hệ thống QL thống nhất với một trình tự nhất định. Ngoài bốn chức năng trên trong hệ thống QL, yếu tố thông tin có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện không thể thiếu với việc thực hiện các chức năng QL. Nếu thông tin bị sai lệch thì công tác QL sẽ gặp khó khăn dẫn đến nhà lãnh đạo có quyết định sai. Biện pháp quản lí Biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL trong quá trình tiến hành các HĐ nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Biện pháp QL là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình huống. Căn cứ vào tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL, có thể chia thành nhóm biện pháp cơ bản sau: - Biện pháp thuyết phục: là cách tác động và nhận thức của con người bằng lí lẽ cho con người có nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận những yêu cầu của QL và từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó. - Biện pháp tổ chức - hành chính: là cách tác động trực tiếp của hệ QL đến hệ bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định; thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự kỷ cương của bộ máy, giúp các quyết định QL được thi hành nhanh chóng và chính xác, tăng hiệu quả HĐ QL. - Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực HĐ.