Mở đầu

Mở đầu: Khám phá tổng quan về chủ đề, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Tìm hiểu cách tiếp cận vấn đề, phương pháp nghiên cứu cùng ý nghĩa thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

239
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Quản Lý Đào Tạo VLVH Điểm Nhấn 55 Ký Tự

UNESCO đã khuyến cáo giáo dục thế kỷ 21 là giáo dục xã hội học tập suốt đời. Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng “Giáo dục bình đẳng” của Mác - Ăngghen và Hồ Chí Minh. Giáo dục không thể tách rời xã hội, mà là một khối thống nhất. Nguyên lý “giáo dục cho mọi người – mọi người cho giáo dục” và “học suốt đời” trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục, đào tạo theo 4 tiêu chí của UNESCO. Nhu cầu đào tạo hệ vừa làm vừa học (VLVH) tăng cao, đặt ra yêu cầu lớn cho các cơ sở đào tạo, tuy nhiên đang là một "điểm nóng" của dư luận xã hội. Nhiều hội thảo quốc gia, cấp vùng, và các trường đại học đã thảo luận về thực trạng của hệ đào tạo VLVH để tìm giải pháp nâng cao chất lượng. Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGD) thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm. Có nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề này: giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn hình thức đào tạo, hoặc tiếp tục đào tạo nhưng cần phải được “cải tổ”. Cần có giải pháp quản lý đào tạo hiệu quả cho hệ vừa làm vừa học.

1.1. Xu Hướng Xã Hội Học Tập và Vai Trò Đào Tạo VLVH

Xã hội học tập là một xu thế tất yếu, đòi hỏi sự phát triển toàn diện của con người. Trong bối cảnh cách mạng KH&CN, việc học tập liên tục, học suốt đời là yếu tố then chốt. Đào tạo VLVH, nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là một hình thức đào tạo của giáo dục thường xuyên. Theo Điều 44 Luật Giáo dục, giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời. Vì vậy, các nhà quản lý giáo dục cần tổ chức và quản lý việc học tập và giảng dạy của hệ VLVH để đáp ứng nhu cầu xã hội.

1.2. Thực Trạng Đào Tạo VLVH và Các Quan Điểm Trái Chiều

Đào tạo VLVH hiện đang là một "điểm nóng" của dư luận xã hội. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thừa nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo hệ vừa học vừa làm còn hạn chế. GS Phạm Phụ cho rằng hệ VLVH bị buông lỏng quản lý, liên kết đào tạo chưa chặt chẽ. Nhà giáo Đỗ Văn Khiêm nhận thấy nội dung và cách đánh giá chất lượng của các lớp VLVH còn nhiều vấn đề. Một số địa phương thậm chí từ chối tuyển dụng sinh viên hệ tại chức, cho thấy sự nghi ngại về chất lượng đầu ra. Chất lượng đào tạo là vấn đề then chốt.

II. Vấn Đề Quản Lý Đào Tạo Cao Đẳng VLVH Đại Học N Vụ 58 Ký Tự

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (ĐHNV HN) là một trường đại học công lập trực thuộc Bộ Nội vụ, chuyên đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho lĩnh vực công tác nội vụ, văn phòng và các ngành nghề khác. Nhà trường đã có những thành tựu đáng kể trong phát triển quy mô các ngành đào tạo hệ vừa làm vừa học. Tuy nhiên, công tác quản lý các hoạt động hệ đào tạo này còn nhiều bất cập, theo lối mòn, thói quen truyền thống, điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhà trường. Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo dục, từ thực tiễn công tác, tác giả nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, nhằm rút ra những kinh nghiệm góp phần đề ra các biện pháp quản lý đào tạo một cách đồng bộ, có tính khả thi cao, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đáp ứng được mục tiêu phát triển của nhà trường.

2.1. Sự Cần Thiết Nghiên Cứu Quản Lý Đào Tạo VLVH tại ĐHNV

Việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cần thiết để rút ra những kinh nghiệm, đề ra các biện pháp quản lý đào tạo đồng bộ, khả thi, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. ĐHNVHN là trường công lập trực thuộc Bộ Nội vụ. Vấn đề quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở ĐHNVHN hiện chưa có tác giả nào nghiên cứu.

2.2. Mục Tiêu và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Quản Lý Đào Tạo

Mục đích nghiên cứu là nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm đóng góp, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: Nghiên cứu cơ sở lý luận; Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng; Đề xuất các biện pháp quản lý.

2.3. Giả Thuyết Khoa Học Về Quản Lý Đào Tạo Hiệu Quả

Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý khoa học, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu người học theo hướng đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình đào tạo, tăng cường trách nhiệm, mở rộng hoạt động liên kết đào tạo, sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Cần tập trung vào cải tiến chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Quản Lý Tối Ưu Hoá 54 Ký Tự

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm văn bản của nhà nước, Bộ GD&ĐT, sách, báo, các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi (sử dụng phiếu điều tra, bảng hỏi đối với đối tượng là các nhà quản lý, giảng viên, học viên và cán bộ sử dụng sau đào tạo). Phỏng vấn (gặp gỡ và trao đổi với lãnh đạo Khoa Đào tạo tại chức và bồi dưỡng, giảng viên, học viên hệ vừa làm vừa học, lãnh đạo các địa phương liên kết đào tạo với nhà trường). Quan sát, tổng hợp và phân tích thống kê (sử dụng các phương pháp xử lý số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử lý kết quả).

3.1. Nghiên Cứu Lý Luận Tổng Hợp Tài Liệu và Văn Bản Pháp Quy

Phương pháp nghiên cứu lý luận tập trung vào việc thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan, bao gồm văn bản của nhà nước, Bộ GD&ĐT, sách, báo, và các công trình nghiên cứu khoa học. Điều này giúp xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý đào tạo.

3.2. Nghiên Cứu Thực Tiễn Khảo Sát và Phỏng Vấn

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn sử dụng khảo sát bằng phiếu hỏi đối với nhà quản lý, giảng viên, học viên. Bên cạnh đó, phỏng vấn sâu các đối tượng liên quan như lãnh đạo khoa, giảng viên, học viên và lãnh đạo các địa phương liên kết đào tạo, sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin trực tiếp từ môi trường đào tạo VLVH. Cần đảm bảo tính khách quan, toàn diện.

IV. Thực Trạng Quản Lý Tuyển Sinh Cao Đẳng VLVH Hiện Nay 57 Ký Tự

Thực trạng đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Chủ trương của nhà trường về đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Quy mô ngành nghề và chất lượng đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Tổ chức bộ máy quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học. Cơ sở pháp lý để quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Thực trạng quản lý công tác tuyển sinh trình độ cao đẳng hệ VLVH. Thực trạng quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của học viên.

4.1. Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý Đào Tạo Hệ Vừa Làm Vừa Học

Việc tổ chức bộ máy quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại ĐHNVHN là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo. Cần xem xét cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận liên quan, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị để thực hiện tốt công tác quản lý.

4.2. Thực Trạng Tuyển Sinh Trình Độ Cao Đẳng Hệ VLVH

Công tác tuyển sinh trình độ cao đẳng hệ VLVH đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo số lượng và chất lượng sinh viên đầu vào. Cần phân tích quy trình tuyển sinh, các tiêu chí xét tuyển, số lượng hồ sơ đăng ký, số lượng sinh viên trúng tuyển, để đánh giá hiệu quả công tác tuyển sinh.

4.3. Quản Lý Hoạt Động Giảng Dạy và Học Tập Thực Tế

Cần đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của học viên để có biện pháp cải thiện. Phân tích các yếu tố như: phương pháp giảng dạy, tài liệu học tập, sự tham gia của sinh viên, chất lượng đánh giá, để đưa ra những nhận xét khách quan.

V. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Nghiên Cứu Chi Tiết 56 Ký Tự

Định hướng phát triển của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Định hướng phát triển nhà trường trong giai đoạn 2012 - 2015 tiến đến năm 2020. Định hướng phát triển hệ vừa làm vừa học trong thời gian tới. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp: Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi. Nguyên tắc kế thừa và phát triển. Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Biện pháp 1: Tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo, hoàn thiện quy trình tuyển sinh. Biện pháp 2: Đổi mới nội dung chương trình đào tạo. Biện pháp 3: Tăng cường đổi mới hình thức dạy học.

5.1. Khảo Sát Nhu Cầu Đào Tạo và Hoàn Thiện Tuyển Sinh

Việc tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo một cách bài bản, khoa học, và hoàn thiện quy trình tuyển sinh là một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo. Cần xác định rõ nhu cầu của thị trường lao động, đối tượng học viên, và các ngành nghề đào tạo phù hợp.

5.2. Đổi Mới Nội Dung Chương Trình Đào Tạo Cao Đẳng

Đổi mới nội dung chương trình đào tạo là yếu tố then chốt để đáp ứng yêu cầu của xã hội và người học. Cần rà soát, cập nhật kiến thức, kỹ năng, và thái độ phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu cầu thực tế của công việc. Cần đảm bảo tính liên thông, thực tiễn.

5.3. Tăng Cường Đổi Mới Hình Thức Dạy Học Hiện Đại

Tăng cường đổi mới hình thức dạy học là cần thiết để tạo sự hứng thú cho người học và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, sử dụng công nghệ thông tin, và tạo môi trường học tập thân thiện, sáng tạo. Khuyến khích giảng viên sử dụng các phần mềm LMS, E-learning.

VI. Hoàn Thiện Kiểm Tra Đánh Giá Quản Lý Đào Tạo VLVH 54 Ký Tự

Biện pháp 4: Tăng cường đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên. Biện pháp 5: Hoàn thiện quản lý công tác thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Biện pháp 6: Phối hợp có hiệu quả với các cơ sở liên kết đào tạo trong quản lý hoạt động đào tạọ trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp. Mục đích khảo sát. Đối tượng khảo sát. Phương pháp khảo sát. Kết quả khảo sát.

6.1. Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá Hoạt Động Giảng Dạy

Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên cần được đổi mới để đảm bảo chất lượng giảng dạy. Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, công bằng, và thực hiện đánh giá thường xuyên, định kỳ. Cần thu thập thông tin phản hồi từ sinh viên.

6.2. Quản Lý Thi Cử Đánh Giá Kết Quả Học Tập Nghiêm Túc

Quản lý công tác thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cần được hoàn thiện để đảm bảo tính khách quan, công bằng, và chính xác. Cần xây dựng quy trình thi cử chặt chẽ, sử dụng các hình thức đánh giá đa dạng, và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy chế thi cử. Đảm bảo chất lượng văn bằng cao đẳng.

6.3. Phối Hợp Liên Kết Đào Tạo Hiệu Quả và Bền Vững

Phối hợp có hiệu quả với các cơ sở liên kết đào tạo là một yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học. Cần xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng, thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo tại các cơ sở liên kết, và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy chế.

12/05/2025
Mở đầu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dau CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21 là nền giáo dục của xã hội học tập suốt đời cho mọi người. Quan điểm này có từ rất sớm, nó xuất phát từ quan điểm “Giáo dục bình đẳng trong tư tưởng của Mác-Ăngen cho đến tư tưởng Hồ Chí Minh đó là “Mọi người ai cũng được học hành”.

Như vậy, giáo dục không thể tách rời xã hội mà giáo dục và xã hội là một khối thống nhất. Nguyên lý “giáo dục cho mọi người – mọi người cho giáo dục” cũng như nguyên lý “học suốt đời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục - đào tạo ở nước ta nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung theo 04 tiêu chí giáo dục của UNESCO “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người” Để đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ ở các cấp trên phạm vi toàn quốc nói chung và trên địa bàn từng tỉnh, từng khu vực nói riêng thì nhu cầu đào tạo hệ vừa làm vừa học sẽ tăng rất cao trong những năm tới, đặt ra một nhu cầu rất lớn cho các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học hiện đang là một “điểm nóng” của dư luận xã hội. Trong thời gian qua có rất nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng như tại các trường đại học về thực trạng của hệ đào tạo vừa làm vừa học để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng đạo tạo của hệ này.

Bộ Giáo dục và Đào tạo thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo vừa làm vừa học. Có rất nhiều ý kiến xoay xung quanh vấn đề này. Có ý kiến phản đối yêu cầu giảm thiểu đáng kể tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình thức đào tạo này. Bên cạnh đó đại đa số ý kiến ủng hộ chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục cho đào tạo loại hình này nhưng cần phải được “cải tổ”.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dau Tại diễn đàn “Việt Nam học tập suốt đời – xây dựng xã hội học tập”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã thẳng thắn thừa nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo hệ vừa học vừa làm còn hạn chế. Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cũng cho rằng đào tạo CĐ, ĐH hệ không chính quy của nhiều trường không chỉ mất cân đối về cơ cấu ngành nghề mà còn cả về hình thức đào tạo, trình độ đào tạo. Chính vì thế, từ năm 2011, Bộ GD&ĐT khuyến khích các trường đại học, đặc biệt là các trường ĐH tốp đầu, giảm dần quy mô đào tạo hệ vừa học vừa làm. Bộ cũng sẽ đẩy mạnh công tác kiểm tra hoạt động liên kết đào tạo theo hình thức vừa học vừa làm nhằm khắc phục và tiến tới xóa bỏ về cơ bản hiện tượng học thuê, thi thuê.

Giáo sư Phạm Phụ - giảng viên Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định chất lượng của hệ đào tạo vừa làm vừa học được nhìn từ phía đơn vị đào tạo và người học. Về phía đơn vị đào tạo, hệ vừa làm vừa học đã bị buông lỏng quản lý từ trường cho đến Bộ GD-ĐT và hệ đào tạo này được xem như “nồi cơm” của các trường, một nguồn để tăng thêm thu nhập nên đã phát triển nhanh về số lượng, liên kết đào tạo chưa chặt chẽ. Về phía người học, đa phần học viên hệ vừa làm vừa học là những người không đủ khả năng đậu vào hệ chính quy. Gọi là sinh viên tại chức là chưa đúng bởi học tại chức lẽ ra là những người đang đi làm, có lợi thế là đã trải qua công việc thực tế và có chuyên môn.

Người học tại chức cần một chương trình đào tạo mang tính thực dụng hơn (Tuổi trẻ online, số ra ngày 24/5/2010) Nhà giáo Đỗ Văn Khiêm thì cho rằng đào tạo hệ vừa làm vừa học là hình thức đào tạo linh hoạt phù hợp cho các học viên có nhiều điều kiện khác nhau. Do đó phải xác định đây là hình thức cần thiết tồn tại trong một xã hội học tập. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy nhiều khóa sinh viên hệ vừa làm vừa học, tác giả nhận thấy nội dung và cách đánh giá chất lượng của các lớp này còn nhiều vấn đề. Chương trình đào tạo thực bị cắt xén quá nhiều về số môn học lẫn số tiết học.

Giảng viên có tâm lý đánh giá thấp học viên và cho rằng học viên ít thời gian nên thường “chủ động” giảm số tiết giảng dạy, hơn nữa 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dau giảng viên dạy ban ngày đã quá mệt rồi. Về phía học viên, đa số đi làm ban ngày đã mệt nên thường có mặt vào những tiết đầu để biết học môn gì, điều kiện thi cuối kỳ ra sao và vào những tiết cuối để xem thầy giới hạn thi chương nào. Một số học viên có quan niệm không đúng là mình học tại chức nên không cần đào sâu nghiên cứu. Đặc biệt, các trung tâm hợp tác đào tạo không muốn mất học viên nên thường dễ dãi trong đánh giá kết quả học tập.

Điều này nhiều người thấy nhưng thường không nói ra, nhất là người học. Chúng ta không cực đoan khi đánh giá văn bằng loại nào. Tuy nhiên, đến khi nào chúng ta nghiêm túc quản lý quá trình đào tạo và phương pháp đánh giá (bài thi, kiểm tra trình độ như nhau) thì hai bằng cấp hệ vừa làm vừa học và chính quy mới thực sự tương đương. Với thành phố Đà Nẵng, trong tờ trình về Kế hoạch biên chế hành chính sự nghiệp, trong đó có nội dung từ năm 2011, Đà Nẵng sẽ không tuyển dụng sinh viên hệ tại chức vào làm việc.

Ông Nguyễn Văn Quế - Giám đốc Sở Nội vụ Hải Dương cũng cho biết sẽ từ chối người có bằng tại chức. Hải Dương chỉ tuyển dụng chính quy không nằm ngoài mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Nối tiếp Đà Nẵng, Hải Dương là Nam Định và Vĩnh Phúc cũng “nói không” với hệ tại chức. Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đầu ra của sản phẩm tức là người học.

Tại sao học viên hệ vừa làm vừa học lại kém hơn sinh viên hệ chính quy và biện pháp nào để thay đổi cách nhìn của mọi người đối với hình thức vừa làm vừa học? Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ xin đề cập đến vần đề quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ VLVH của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Đây là một vấn đề hiện chưa có tác giả nào nghiên cứu. Từ những kết quả nghiên cứu về công tác quản lý đào tạo đã đạt được trong những năm qua, chúng ta có thể phân tích sâu hơn những cái được và chưa được trong công tác quản lý đào tạo nói chung và hệ VLVH nói riêng nhằm đề xuất những biện pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo hệ VLVH của nhà trường. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm đào tạo Theo Từ điển Giáo dục học, đào tạo được hiểu là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đào đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước” [20, tr. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường “Đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho học viên có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả” [15, tr. 45] Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định 1.

Hoạt động đào tạo Hoạt động đào tạo là một hoạt động chính và quan trọng nhất trong mỗi nhà trường. Hoạt động đào tạo, với quan niệm là một loại hình chuyển giao và phát triển các kiến thức, kỹ năng lao động chuyên biệt, hình thành nhân cách nghề nghiệp của con người trong một loại hình lao động nhất định đã hình thành và phát triển rất sớm. Nhiệm vụ chính của hoạt động đào tạo là: - Cung cấp tiềm năng, tiềm lực cho người học; - Cung cấp khả năng vận dụng những tiềm năng đó thành kỹ năng riêng của mình trong thực tiễn. Đào tạo được thể hiện: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dau - Đào tạo gắn với một vấn đề, một kỹ năng hoặc một dự án cụ thể - Đào tạo dạy nghề để nâng cao một tay nghề cụ thể nào đó hoặc những hành động, thao tác cụ thể để làm một việc cụ thể - Đào tạo chung để nâng cao trình độ.

Theo trình tự công việc thì hoạt động đào tạo bao gồm các nội dung sau: tuyển sinh, đào tạo, theo dõi sau đào tạo. Ở mỗi nội dung gồm các công việc cụ thể sau: - Công tác tuyển sinh: Soạn thông báo tuyển sinh, tư vấn, tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh, lập Kế hoạch tuyển sinh, thành lập Hội đồng, Ban giúp việc Hội đồng thi tuyển sinh (Ban đề thi, Ban coi thi, Ban chấm thi….), lập danh sách thi, lịch thi tuyển sinh, tổ chức thi tuyển sinh, xét điểm chuẩn, họp xét trúng tuyển, gửi giấy báo trúng tuyển, gọi nhập học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quản Lý Đào Tạo Cao Đẳng Hệ Vừa Làm Vừa Học: Nghiên Cứu Tại Đại Học Nội Vụ Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý chương trình đào tạo cho sinh viên vừa học vừa làm tại một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các phương pháp hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cải tiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về các thách thức trong quản lý đào tạo và cách thức tối ưu hóa quy trình học tập cho sinh viên. Đặc biệt, tài liệu này còn mở ra cơ hội cho những ai quan tâm đến việc áp dụng các mô hình quản lý hiệu quả trong giáo dục.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ued quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường đại học điện lực. Tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều hơn về lĩnh vực này.