Thực trạng quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 tại các trường tiểu học ở Thuận An

Nghiên cứu chuyên sâu Quản lý tuyển sinh lớp 1 tại Thuận An, Bình Dương mang tính hệ thống, nâng cao năng lực chuyên môn hỗ trợ đào tạo hiệu quả

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 tại Thuận An

Quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 là một nhiệm vụ trọng tâm, quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi trường tiểu học và cả hệ thống giáo dục địa phương. Tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, một địa bàn có tốc độ gia tăng dân số cơ học cao, công tác này càng trở nên cấp thiết. Việc tổ chức tuyển sinh đầu cấp tại Thuận An không chỉ đảm bảo quyền học tập của mọi trẻ em 6 tuổi mà còn là nền tảng để duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Một quy trình quản lý hiệu quả phải bắt đầu từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định rõ mục tiêu, yêu cầu và nội dung công tác tuyển sinh. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Trang, quản lý giáo dục tiểu học trong lĩnh vực tuyển sinh phải tiếp cận theo các chức năng quản lý cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Mỗi khâu trong quy trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, Phòng GD&ĐT Thuận An, và các cơ quan ban ngành địa phương. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo 100% trẻ trong độ tuổi được đến trường, thực hiện tuyển sinh đúng tuyến, minh bạch, công bằng và giảm thiểu tình trạng quá tải tại các trường tiểu học công lập Thuận An. Các văn bản chỉ đạo từ Sở GD&ĐT Bình Dương và kế hoạch cụ thể của địa phương là kim chỉ nam cho hoạt động này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều tra chính xác số liệu trẻ, phân tuyến hợp lý và công khai hóa toàn bộ thông tin tuyển sinh đến phụ huynh.

1.1. Tầm quan trọng của quy trình nhập học lớp 1 tại Thuận An

Công tác tuyển sinh lớp 1 có vị trí đặc biệt quan trọng, là khâu khởi đầu cho một cấp học nền tảng. Chất lượng đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục trong suốt 5 năm tiểu học. Tại Thuận An, với đặc thù là địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp, áp lực về chỗ học cho con em người lao động nhập cư là rất lớn. Do đó, một quy trình nhập học lớp 1 khoa học, minh bạch không chỉ đảm bảo công bằng xã hội mà còn giúp các trường ổn định sĩ số, xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp. Việc quản lý tốt công tác này giúp ngành giáo dục địa phương thực hiện thành công mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đồng thời tạo dựng niềm tin trong cộng đồng và phụ huynh học sinh.

1.2. Cơ sở pháp lý và vai trò của quản lý giáo dục tiểu học

Hoạt động tuyển sinh lớp 1 được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp quy từ trung ương đến địa phương, bao gồm Luật Giáo dục, Điều lệ trường Tiểu học, và các công văn hướng dẫn hàng năm của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Bình Dương. Các văn bản này quy định rõ về độ tuổi, hồ sơ, thời gian và phương thức tuyển sinh. Vai trò của quản lý giáo dục tiểu học ở cấp trường và cấp phòng là cụ thể hóa các quy định này vào thực tiễn, xây dựng kế hoạch tuyển sinh Bình Dương phù hợp với điều kiện địa phương, đảm bảo mọi điều kiện nhập học lớp 1 đều được tuân thủ nghiêm ngặt, từ việc chuẩn bị hồ sơ nhập học lớp 1 đến việc xét duyệt và công bố kết quả.

II. Top thách thức trong quản lý tuyển sinh lớp 1 ở Thuận An

Thực trạng quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 tại thị xã Thuận An đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, đòi hỏi các nhà quản lý phải có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Thách thức lớn nhất xuất phát từ sự gia tăng dân số cơ học không ngừng, dẫn đến tình trạng quá tải trầm trọng tại hầu hết các trường tiểu học. Theo thống kê, Thuận An là địa phương có mật độ dân số cao nhất tỉnh, kéo theo số lượng học sinh đầu cấp tăng vọt hàng năm. Điều này gây áp lực khổng lồ lên cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và chỉ tiêu tuyển sinh tiểu học. Nhiều trường phải chấp nhận tăng sĩ số lớp học lên đến 50 em hoặc hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học. Bên cạnh đó, công tác phân tuyến tuyển sinh còn gặp nhiều bất cập. Việc xác định địa bàn cư trú thực tế của học sinh gặp khó khăn do tình trạng tạm trú, thuê trọ phức tạp, dẫn đến hiện tượng tuyển sinh trái tuyến khó kiểm soát. Quá trình triển khai tuyển sinh trực tuyến lớp 1 dù đã được áp dụng nhưng chưa thực sự phát huy hiệu quả tối đa do một bộ phận phụ huynh (chủ yếu là công nhân) chưa quen với công nghệ, gây ùn tắc tại các điểm tiếp nhận hồ sơ trực tiếp. Những hạn chế trong việc phối hợp giữa nhà trường và chính quyền địa phương trong công tác điều tra, thống kê số trẻ trong độ tuổi cũng là một rào cản lớn.

2.1. Áp lực từ gia tăng dân số và chỉ tiêu tuyển sinh tiểu học

Sự phát triển của các khu công nghiệp đã thu hút một lượng lớn người lao động từ các tỉnh thành khác đến Thuận An sinh sống và làm việc. Hệ quả là số trẻ đến tuổi vào lớp 1 tăng đột biến mỗi năm. Trong khi đó, tốc độ xây dựng trường lớp mới không theo kịp tốc độ gia tăng dân số. Điều này khiến chỉ tiêu tuyển sinh tiểu học tại các trường công lập luôn trong tình trạng căng thẳng. Các trường thường xuyên phải xin tăng chỉ tiêu, tăng số lớp, dẫn đến việc không đảm bảo được các tiêu chuẩn về diện tích, sĩ số theo quy định của Bộ GD&ĐT.

2.2. Bất cập trong phân tuyến tuyển sinh và tuyển sinh trái tuyến

Công tác phân tuyến tuyển sinh được Phòng GD&ĐT Thuận An thực hiện hàng năm nhằm đảm bảo học sinh được học gần nhà. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều phụ huynh vẫn có tâm lý muốn cho con vào các trường được cho là có chất lượng tốt hơn, dẫn đến tình trạng chạy trường, chạy lớp và gây áp lực lên một số trường trung tâm. Việc quản lý tuyển sinh trái tuyến còn lỏng lẻo, tạo ra sự mất cân đối về sĩ số giữa các trường trong cùng một địa bàn. Điều này không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý của nhà trường mà còn tạo ra sự không công bằng trong việc tiếp cận giáo dục.

III. Phương pháp lập kế hoạch tuyển sinh lớp 1 Thuận An tối ưu

Để nâng cao hiệu quả quản lý, việc xây dựng một kế hoạch tuyển sinh chi tiết, khoa học và khả thi là yếu tố tiên quyết. Dựa trên phân tích thực trạng, luận văn của Nguyễn Thị Hoàng Trang đã đề xuất các biện pháp tập trung vào khâu lập kế hoạch. Biện pháp trọng tâm là xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyển sinh lớp 1. Điều này bao gồm việc hoàn thiện hệ thống tuyển sinh trực tuyến lớp 1 thông qua cổng thông tin tuyển sinh Bình Dương, đảm bảo phần mềm hoạt động ổn định, giao diện thân thiện và dễ sử dụng. Nhà trường cần có kế hoạch truyền thông, hướng dẫn tuyển sinh lớp 1 chi tiết cho phụ huynh bằng nhiều hình thức: tờ rơi, video hướng dẫn, tư vấn trực tiếp. Song song đó, việc lập kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ tham gia tuyển sinh là cực kỳ cần thiết. Nội dung tập huấn không chỉ dừng lại ở các quy chế, quy định mà còn phải trang bị kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống và sử dụng thành thạo phần mềm tuyển sinh. Một kế hoạch hiệu quả cũng cần sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để điều tra chính xác số trẻ, làm cơ sở cho việc phân tuyến tuyển sinh hợp lý, đảm bảo tuyển sinh đúng tuyến đạt tỷ lệ cao nhất.

3.1. Xây dựng kế hoạch ứng dụng tuyển sinh trực tuyến lớp 1

Việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp quy trình tuyển sinh trở nên minh bạch, nhanh chóng và giảm tải cho cán bộ tuyển sinh. Kế hoạch cần xác định rõ lộ trình, nguồn lực và các bước triển khai cụ thể. Các trường cần phối hợp với Phòng GD&ĐT Thuận An để thống nhất nền tảng công nghệ, quản lý dữ liệu tập trung. Kế hoạch này phải bao gồm cả phương án hỗ trợ phụ huynh gặp khó khăn khi đăng ký nhập học cho trẻ 6 tuổi qua mạng, chẳng hạn như bố trí máy tính và nhân sự hướng dẫn tại trường trong thời gian tuyển sinh. Mục tiêu là để hình thức trực tuyến trở thành phương thức đăng ký chủ đạo.

3.2. Lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tuyển sinh

Chất lượng của công tác tuyển sinh phụ thuộc lớn vào năng lực và thái độ của đội ngũ thực thi. Kế hoạch bồi dưỡng cần được xây dựng hàng năm, trước mỗi mùa tuyển sinh. Nội dung bồi dưỡng phải cập nhật các văn bản chỉ đạo mới nhất từ Sở GD&ĐT Bình Dương, tập huấn về quy trình xét tuyển học sinh lớp 1, kỹ năng kiểm tra, đối chiếu hồ sơ nhập học lớp 1, và đặc biệt là thái độ phục vụ, giải đáp thắc mắc cho phụ huynh một cách chuyên nghiệp, tận tình. Điều này góp phần nâng cao sự hài lòng và tạo hình ảnh tốt đẹp cho nhà trường.

IV. Bí quyết tổ chức quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 hiệu quả

Sau khi có kế hoạch chi tiết, công tác tổ chức thực hiện và chỉ đạo đóng vai trò quyết định sự thành công. Một trong những bí quyết quan trọng là phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các cá nhân, bộ phận phụ trách. Hiệu trưởng, với vai trò là Chủ tịch Hội đồng tuyển sinh, cần thành lập các ban chuyên trách như: ban tiếp nhận hồ sơ, ban kiểm tra hồ sơ, ban công nghệ thông tin, ban truyền thông... Mỗi ban, mỗi cá nhân phải được giao nhiệm vụ cụ thể kèm theo mô tả công việc và yêu cầu về kết quả. Việc này đảm bảo không có sự chồng chéo, bỏ sót công việc và quy được trách nhiệm rõ ràng. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo cần linh hoạt và quyết đoán. Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ, giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình tiếp nhận hồ sơ nhập học lớp 1. Đặc biệt, cần chỉ đạo quyết liệt việc ứng dụng công nghệ thông tin, yêu cầu cán bộ tuyển sinh sử dụng phần mềm để cập nhật dữ liệu theo thời gian thực, giúp ban giám hiệu có cái nhìn tổng quan và đưa ra quyết định chính xác. Đồng thời, cần cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá, không chỉ kiểm tra sau khi kết thúc mà phải giám sát liên tục trong suốt quá trình tuyển sinh.

4.1. Phân công nhiệm vụ rõ ràng trong hội đồng tuyển sinh

Một cơ cấu tổ chức rõ ràng là nền tảng của hiệu quả. Hội đồng tuyển sinh cần có quy chế hoạt động cụ thể. Ví dụ, bộ phận tiếp nhận hồ sơ chịu trách nhiệm hướng dẫn phụ huynh các thủ tục nhập học cho bé vào lớp 1; bộ phận kiểm tra hồ sơ đối chiếu thông tin trên bản sao và bản chính, đảm bảo tính hợp lệ. Sự phân công rành mạch giúp tối ưu hóa thời gian xử lý và giảm thiểu sai sót, tạo sự chuyên nghiệp trong mắt phụ huynh và cộng đồng.

4.2. Cải tiến công tác chỉ đạo và kiểm tra đánh giá tuyển sinh

Công tác chỉ đạo không nên chỉ mang tính hành chính. Người quản lý cần sâu sát, lắng nghe ý kiến từ cán bộ thực thi và phụ huynh để có những điều chỉnh kịp thời. Hoạt động kiểm tra cần được đổi mới, thay vì chỉ kiểm tra hồ sơ giấy tờ, cần kiểm tra cả quá trình vận hành hệ thống tuyển sinh trực tuyến lớp 1, kiểm tra thái độ phục vụ của cán bộ. Đánh giá cuối kỳ tuyển sinh cần dựa trên các tiêu chí cụ thể như: tỷ lệ đúng tuyến, thời gian xử lý hồ sơ trung bình, mức độ hài lòng của phụ huynh.

V. Đánh giá thực trạng quản lý tuyển sinh từ kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Thuận An đã cung cấp những dữ liệu quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác quản lý tuyển sinh. Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù các trường và Phòng GD&ĐT Thuận An đã có nhiều nỗ lực, vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Về mức độ hài lòng của cha mẹ học sinh, đa số ghi nhận sự thuận lợi của hình thức tuyển sinh trực tuyến lớp 1, tuy nhiên vẫn còn ý kiến phàn nàn về sự phức tạp của thủ tục nhập học cho bé vào lớp 1 và thời gian chờ đợi khi nộp hồ sơ trực tiếp. Thái độ phục vụ của cán bộ tuyển sinh được đánh giá ở mức khá, nhưng cần cải thiện hơn nữa về sự chuyên nghiệp và tận tình. Phân tích về quy trình thực hiện cho thấy khâu chuẩn bị, xây dựng kế hoạch được các trường thực hiện tương đối tốt. Tuy nhiên, khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá còn chưa được chú trọng đúng mức. Cụ thể, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và chỉ đạo chưa đồng bộ, chủ yếu mới dừng ở khâu nhận đăng ký. Dữ liệu về danh sách trường tiểu học Thuận An và chỉ tiêu tuyển sinh đã được công khai, nhưng cách thức truyền thông chưa thực sự tiếp cận được hết các đối tượng phụ huynh.

5.1. Phân tích mức độ hài lòng của phụ huynh về thủ tục nhập học

Khảo sát từ luận văn của Nguyễn Thị Hoàng Trang chỉ ra rằng, phụ huynh đánh giá cao việc nhà trường công khai thông tin về tuyến tuyển sinh và chỉ tiêu. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cảm thấy bối rối với các loại giấy tờ trong hồ sơ nhập học lớp 1 và mong muốn có một quy trình đơn giản, tinh gọn hơn. Việc phải đi lại nhiều lần để đối chiếu, bổ sung giấy tờ là một trong những điểm gây phiền hà nhất, đặc biệt với phụ huynh là công nhân có thời gian eo hẹp.

5.2. Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp mới

Các biện pháp đề xuất trong nghiên cứu, như tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, bồi dưỡng cán bộ, phân công nhiệm vụ rõ ràng, đều được các cán bộ quản lý và giáo viên tham gia khảo nghiệm đánh giá cao về cả tính cần thiết và tính khả thi. Đặc biệt, biện pháp đổi mới hình thức tuyển sinh và cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá được xem là những giải pháp đột phá, có khả năng giải quyết các vấn đề tồn tại, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 ở trường tiểu học.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về QL CTTS lớp 1 ở trƣờng TH. - Chƣơng 2: Thực trạng QL CTTS lớp 1 ở trƣờng TH trên địa bàn TX Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. - Chƣơng 3: Biện pháp QL CTTS lớp 1 ở trƣờng TH trên địa bàn TX Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TUYỂN SINH LỚP 1 Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.

Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới mỗi quốc gia, mỗi nền giáo dục đều có phƣơng thức TS khác nhau. Mục tiêu của tuyển sinh là nhằm phát hiện, tuyển chọn những ngƣời có đủ tiêu chuẩn theo quy định đƣợc vào nhập học tại các trƣờng. Với phạm vi nghiên cứu có hạn, chúng tôi nhận thấy công tác tuyển sinh lớp 1 đối với nhiều quốc gia khác đƣợc thực hiện nhƣ sau: Tại Nhật Bản sau khi hoàn tất các lớp mầm non, phụ huynh sẽ đăng ký cho con vào bậc tiểu học và đƣợc phân tuyến về trƣờng gần nhà để đảm bảo trẻ đi học không quá xa.

Và một trong những yêu cầu bắt buộc đối với trẻ là phải tự đi học, bố mẹ không cần phải đƣa đón mỗi ngày. Tại Mỹ, khi các bé bƣớc vào giai đoạn chuẩn bị vào lớp 1, các bậc phụ huynh ở Mỹ phải trải qua quá trình chọn trƣờng để làm hồ sơ nhập học cho con. Tuy nhiên, các bé sẽ đƣợc kiểm tra đầu vào để đánh giá năng lực của trẻ. Sau khi có kết quả, giáo viên chủ nhiệm sẽ có buổi gặp riêng với bé và phụ huynh vào ngày đầu năm để đặt ra mục tiêu cho cả năm học dựa trên mong muốn, thực lực của bé và sự theo dõi của bố mẹ.

Tại Trung Quốc, một số trƣờng tiểu học tổ chức thi đầu vào, yêu cầu học sinh hoàn thành các câu hỏi toán học. Vì thế, các trẻ mẫu giáo thƣờng phải theo học trƣớc các chƣơng trình tiểu học trƣớc để đƣợc vào học các lớp đầu (Hoa Hạ, 2018). Từ đó cho thấy công tác TS lớp 1 ở các nƣớc thƣờng đƣợc tổ chức chặt chẽ, nhằm tuyển chọn những học sinh có năng lực phù hợp để theo học các lớp mà học sinh đủ tiêu chuẩn vào học. Bởi vì nguồn lực đầu vào, số lƣợng và chất lƣợng học sinh là quan trọng nhất.

Một trƣờng học có chất lƣợng là trƣờng tuyển đƣợc nhiều học sinh giỏi. Vì thế, tuyển sinh là khâu đầu tiên để nâng cao chất lƣợng của nhà trƣờng. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trong lịch sử phát triển của GD và ĐT, vai trò của TS là một khâu, một bƣớc vô cùng quan trọng. Dƣới chế độ phong kiến, thi cử nhằm tuyển chọn ngƣời hiền đảm nhận các chức vụ quản lý xã hội theo khuôn mẫu chế độ phong kiến mà Nho giáo đã quy định.

Mặc dù có những hạn chế nhƣng thi cử của giáo dục phong kiến Việt Nam thực sự đã là đòn bẩy thúc đẩy việc học tập nhằm đáp ứng yêu cầu tuyển lựa nhân tài của Nhà nƣớc với quan niệm “Muốn có nhân tài trƣớc hết phải chọn ngƣời có học, phép chọn ngƣời có học thì thi cử là đầu” (Phan Huy Chú, 2007, tr. Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm chuẩn hóa, hiện đại hóa trong giáo dục. Giáo dục tiểu học là điều kiện cơ bản nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nƣớc. Vì thế, nhà nƣớc thực hiện chính sách phổ cập tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam.

Nhà nƣớc dành ngân sách thích đáng để phổ cập giáo dục tiểu học. Có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học. Trẻ em 6 tuổi phải đƣợc học lớp 1 ngay từ đầu năm học. Trẻ em có khả năng phát triển đặc biệt thì đƣợc học lớp 1 trƣớc 6 tuổi hoặc học vƣợt lớp khi cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền cho phép (Quốc hội, 1991).

QL CTTS là một nội dung quan trọng của ngành GDĐT đƣợc quy định trong các Văn kiện của Đảng, Điều lệ trƣờng trung học cơ sở, THPT và trƣờng Phổ thông có nhiều cấp học và trong nhiệm vụ trọng tâm năm học của Bộ GDĐT, Sở GDĐT về “Kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với tiểu học” thì tiêu chuẩn đánh giá trƣờng tiểu học mức 1 phải thực hiện nhiệm vụ phổ cập theo phân công; trong địa bàn tuyển sinh của trƣờng, tỷ lệ trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt ít nhất 90%; quản lý hồ sơ, số liệu phổ cập giáo dục tiểu học đúng quy định (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Bên cạnh đó, công tác tuyển sinh lớp 1 cũng đã thay đổi so với trƣớc đây, do cách đánh giá học sinh lớp 1 theo chƣơng trình GDPT mới đã đƣợc Bộ GDĐT 9 xây dựng mới. Với nội dung cốt lõi của hƣớng dẫn này là đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ của học sinh theo yêu cầu đạt về các phẩm chất, năng lực đƣợc quy định trong chƣơng trình tổng thể và chƣơng trình từng môn học lớp 1 thông qua quá trình học tập từng môn học; đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của học sinh đƣợc quy định trong chƣơng trình tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Ngoài ra, đề tài nghiên cứu cấp quốc gia “Đánh giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” cũng đã đƣợc Bộ GDĐT chỉ đạo triển khai nhằm đƣa ra những công cụ hỗ trợ việc đánh giá học sinh đạt hiệu quả.

Tác giả Nguyễn Công Khanh chủ nhiệm đề tài và cộng sự đã “Xây dựng các khung chuẩn đánh giá năng lực, phẩm chất cho học sinh lớp 1, gồm các khung chuẩn chung và khung năng lực, phẩm chất đặc thù. Theo đó, mỗi phẩm chất, năng lực sẽ gồm một số tiêu chí và mỗi tiêu chí được cụ thể hoá thành một số chỉ báo; mỗi chỉ báo sẽ xác định bằng những biểu hiện hành vi đặc trưng, cốt lõi nhất. Dựa trên những khung phẩm chất, năng lực này, giáo viên sẽ có bảng tham chiếu, để biết từng học sinh mạnh gì - yếu gì, đã đạt được những yêu cầu nào của chương trình - cái nào dưới mức chuẩn; để từ đó hỗ trợ các em và điều chỉnh hoạt động dạy học” (Nguyễn Công Khanh, 2018). Qua đó cho thấy, nền giáo dục Việt Nam đã từng bƣớc thay đổi trong cách đánh giá học sinh theo những khung chuẩn phù hợp với từng học sinh.

Vì thế, công tác tuyển sinh lớp 1 cũng phải thay đổi, lựa chọn học sinh theo học các lớp phù hợp với năng lực của mình. Cách thức tuyển sinh vì thế cũng thay đổi theo xu hƣớng ứng dụng CNTT vào quản lý nhằm giảm thiểu tối đa thời gian, đảm bảo công tác tuyển sinh lớp 1 luôn đƣợc chính xác, khoa học. Dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc về giáo dục, một số nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề xây dựng cơ sở lí luận về quản lý công tác tuyển sinh lớp 1. Tiêu biểu có các tác phẩm “Cơ sở của khoa học quản lí” của tác giả Nguyễn Minh Đạo (Nguyễn Minh Đạo, 2017).

Tác phẩm đã trình bày những vấn đề chung nhất về quản lí nhƣ lịch sử hình thành khoa học quản lí, các khái niệm, phạm trù cơ bản của khoa học quản lí, phƣơng pháp quản lí… Bàn về QLGD có tác phẩm “Những 10 vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục” của tác giả Trần Kiểm (Trần Kiểm, 2008). Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát các tƣ tƣởng về quản lí, QLGD từ trƣớc tới nay. Ngoài ra, còn có các khái niệm đặc điểm, chức năng và phƣơng pháp quản lí, QLGD và một số mô hình QLGD trên thế giới. Qua khảo sát các nghiên cứu liên quan, tác giả nhận thấy CTTS lớp 1 ở trƣờng tiểu học cũng nhƣ QL CTTS lớp 1 ở trƣờng tiểu học là một nội dung trong quản lý nhà nƣớc về giáo dục.

Mặc dù các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc đã tiếp cận vấn đề này dƣới góc độ khác nhau, nhƣng tất cả các công trình nghiên cứu đó dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đã đặt cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu vấn đề “Quản lý công tác tuyển sinh lớp 1 ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương”. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường tiểu học 1. Quản lý Có rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ quản lý với những góc nhìn khác nhau.

Vì vậy, định nghĩa về quản lý rất đa dạng, phong phú. Theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Huỳnh, Vũ Văn Tảo và Bùi Hiền, 2001, tr. Mary Parker Follett đã đƣa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý: “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” (Nguyễn Lộc, 2010, tr. Và một định nghĩa đƣợc chấp nhận khá rộng rãi khác về quản lý xét dƣới góc độ chức năng:“Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực có sẵn của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Lộc, 2010, tr.

“Quản lý là tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ 11 chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” (Nguyễn Lộc, 2010, tr. Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” (Trần Kiểm, 1997).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ