CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NỘI TRÚ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Tại các trường đại học ở Hoa Kỳ ở đầu thế kỷ XIX, các khoa giảng dạy và một số nhân viên đã xử lý một số chức năng không thuộc nhiệm vụ của mình như: Chỗ ở, dịch vụ ăn uống….
Công việc này không tập trung toàn bộ sinh viên mà chỉ có giới giạn cho những người có thể chi trả được. Tuy vậy các đối tượng và sinh viên đến trường đại học bắt đầu mở rộng (nhiều người trong số họ là những phụ nữ được nhận vào đại học lần dầu tiên trong suốt vài thập kỷ). Một số học giả hầu như không biết gì về quản lý và hỗ trợ sinh viên mặc dù đã từng giải quyết các chức năng này. Họ bắt đầu kêu gọi hỗ trợ nhiều hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà không có sự hướng dẫn này.
Trong cuối thế kỷ XIX, các mô hình nghiên cứu của giáo viên, học giả đã được áp dụng trên khắp thế giới vượt qua cả mục đích chính là giảng dạy. Từ đó dẫn đến sự ra đời của một nghề mới là công tác sinh viên. Nhân viên làm công tác sinh viên không chỉ phụ trách ăn, ở mà còn chăm sóc sức khỏe về thể chất, tinh thần đã trở thành một điều cần thiết của nhiều trường đại học. Đến những năm 1990, trọng tâm của công tác sinh viên đã chuyển sang hỗ trợ nâng cao kết quả học tập của sinh viên.
Sự phát triển này đã tạo ra hy vọng mới rằng nỗ lực của bộ phận công tác sinh viên sẽ tạo ra kết quả tốt hơn cho việc học tập, sinh hoạt của sinh viên. Nhũng nghiên cứu về sinh viên rất quan trọng trong các trường đại học vì nhà trường hiểu đầy đủ hơn về những thay đổi mà nhiều sinh viên đại học đang trải qua. Những nghiên cứu này cung cấp các mô hình và khuôn khổ để hiểu rõ hơn về cách sinh viên phát triển, từ đó cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích tốt nhất cho sinh viên. Lý thuyết về sự tham gia Alexander Astin (1984) [76], mô tả tầm quan trọng của sinh viên trong trường đại học.
Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động ngoại khóa, vị trí lãnh đạo của sinh viên, hoạt động trong khu nội trú và trong khuôn viên trường có mối tương quan tích cực với việc học tập (Kuh và Pike, 2005) Từ thời Trung Hoa cổ đại, các nhà giáo lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan trọng của vấn đề tự học. Khổng Tử (551 – 479, TCN), trong cuộc đời dạy học của mình ông quan tâm và coi trọng mặt tích cực của người học. Ông đã từng dạy học trò: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho” hay “Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba gốc kia thì không dạy nữa”. Socrat (469 – 309, TCN) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh”qua đó mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý”bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận.
6 Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương”đã đưa ra quan điểm về quá trình “Nhận biết dạy – học”. Theo ông “Sự học tập do người học chủ đạo” Để giúp người học nâng cao tính tích cực nhận thức và đạt hiệu quả trong hoạt động tự học các tác giả như A.Petrovski, cũng đã đề ra trong việc thiết kế các bài tập nhận thức, nhất là các bài tập nêu vấn đề để sinh viên thực hiện trong thời gia tự học đó là trách nhiệm của người giáo viên Cuối thế kỷ XX, quan niệm về học tập suốt đời được coi là chì khóa mở cửa vào thế kỷ XXI. Theo khuyến cáo về “Giáo dục cho thế kỷ XXI”. UNESCO đã nêu bốn trụ cột về giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”.
Nghiên cứu ở iệt Nam Trong công tác quản lý ở các trường ĐH, CĐ, để đạt mục đích nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội thì ngoài việc quản lý hiệu quả các mặt về người dạy, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất…thì không thể không quan tâm đến đối tượng người học. Bởi vì người học chính là nhân vật trung tâm, là sản phẩm, là thương hiệu của một trường. Tất cả các hoạt động của nhà trường đều hướng tới người học, vì quyền lợi của người học. Xung quanh các yếu tố người học có nhiều vấn đề cần nghiên cứu, trong đó vấn đề quản lý người học trong quá trình học tập, sinh hoạt tại các cơ sở nội trú, các khu nội trú.
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, đã được thực hiện một cách tự giác, không còn là “tập tính”như các giống loài động vật bậc thấp khác. Giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục đã gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó xuất hiện khoa học về quản lý giáo dục. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Như vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo thì ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, cơ sở vật chất.
thì không thể không nghiên cứu đến đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp là người học. Liên quan vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, trong đó bao gồm vấn đề người học trong quá trình được đào tạo tại các cơ sở giáo dục trong khu nội trú. Năm 1997 Bộ GD&ĐT ban hành “Quy chế học sinh sinh viên nội trú các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp” (Quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997) [2], quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường đại học, cao đẳng trong việc tổ chức quản lý khu nội trú; quyền và nghĩa vụ của học sinh sinh viên trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt. trong khuôn viên nội trú của trường.
Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số 41/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 18/10/2002, về việc sửa đổi, bổ sung công tác học sinh sinh viên nội trú và đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT-BGD&ĐT 7 ngày 26/7/2011, về việc ban hành Quy chế công tác học sinh sinh viên nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thông tư này có hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế quyết định 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành quy chế công tác học sinh sinh viên nội trú trong các trường đại học, cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Quản lý công tác sinh viên nội trú là vấn đề mới chưa được nghiên cứu nhiều, tuy nhiên có một số tác giả đã nghiên cứu, đề cập đến những khía cạnh khác nhau về quản lý người học. Cụ thể, có thể kể đến các công trình sau: - Đề tài: “Quản lý sinh viên nội trú tại Trung tâm hỗ trợ sinh viên – Đại học quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”của Nguyễn Việt Hùng, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục năm 2014 đã đưa ra các thực trạng quản lý sinh viên nội trú tại trung tâm hỗ trợ sinh viên – Đại học quốc gia Hà Nội và đề xuất một số biện pháp để quản lý sinh viên nội trú tại Trung tâm hỗ trợ sinh viên – Đại học quốc gia Hà Nội - Đề tài: “Quản lý công tác sinh viên tại trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”của Nguyễn Thị Mai Hương năm 2016 đã đưa ra các thực trạng quản lý công tác sinh viên tại Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất được các biện pháp thích hợp quản lý sinh viên tại trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh - Đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại khu nội trú Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội”của Nguyễn Văn Trọng năm 2016 đã đưa ra các thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại khu nội trú Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại khu nội trú Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội - Đề tài: “Quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên nội trú tại trường Đại học quốc gia Hà Nội”của Lê Thành Thật năm 2017 đã chỉ ra các thực trạng quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên nội trú tại đại học quốc gia Hà Nội và đề xuất một số biện pháp thích hợp trong công tác quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên nội trú tại Đại học quốc gia Hà Nội - Đề tài: “Quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại trường Đại học Hà Nội”của Nguyễn Danh Vĩnh năm 2020 đã chỉ ra các thực trạng quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại trường Đại học Hà Nội và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại trường Đại học Hà Nội Qua những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng quản lý công tác sinh viên, trong đó có quản lý công tác sinh viên nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ thể áp dụng trong những môi trường cụ thể, của từng trường trong khi đó quản lý công tác sinh viên nội trú lại phụ thuộc vào đặc thù của từng trường.
Tuy nhiên có thể thấy rằng, các trường đại học có những đặc thù riêng, sinh viên nói chung và sinh viên nội trú nói riêng có những đặc điểm rất khác nhau nên những 8 biện pháp quản lý công tác sinh viên nội trú cần được đề xuất trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế của mỗi trường. Hiện nay, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt - Hàn cũng gặp phải những vấn đề trong quản lý công tác sinh viên nội trú như các trường khác nói chung nhưng xuất phát từ đặc điểm riêng của Trường nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của một trường khác.