Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thúc đẩy nhu cầu khám chữa bệnh tăng cao, kéo theo sự gia tăng áp lực lên hệ thống hạ tầng xử lý chất thải y tế. Bệnh viện Savannakhet là một trong những cơ sở y tế tuyến tỉnh quy mô lớn nhất tại Lào, được thành lập từ năm 1920 và trải qua đợt khôi phục tổng thể vào năm 2003. Hiện nay, bệnh viện hoạt động trên khuôn viên rộng 25.000 m² với 20 tòa nhà, 200 giường bệnh nội trú, 17 đơn vị chuyên môn và đội ngũ 290 cán bộ y tế. Trung bình mỗi ngày cơ sở tiếp nhận hàng trăm lượt bệnh nhân và thân nhân đến thăm khám.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là hầu hết các bệnh viện tại Lào chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế đồng bộ, các điểm tập kết rác thải nằm trực tiếp trong khuôn viên nhưng chưa đảm bảo an toàn vệ sinh dịch tễ. Chất thải y tế nguy hại và chất thải sinh hoạt thường bị vận chuyển trực tiếp đến bãi rác công cộng để chôn lấp hoặc đốt thủ công mà không qua khử khuẩn tiền xử lý. Nhận thức của nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân về việc phân loại rác tại nguồn còn nhiều bất cập.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng phát sinh, khối lượng, thành phần cũng như quy trình thu gom, lưu trữ và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Savannakhet; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường bệnh viện theo hướng bền vững. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 01/2018 đến tháng 10/2018 tại toàn bộ các khoa phòng chức năng của bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, giúp tối ưu hóa định mức ngân sách môi trường và giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm bệnh truyền nhiễm cho 290 nhân viên cùng cộng đồng dân cư xung quanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Quản lý chất thải rắn tích hợp cùng Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền nhằm phân định rõ trách nhiệm tài chính và nghĩa vụ vận hành của các bên liên quan. Mô hình Thứ bậc quản lý chất thải cũng được áp dụng nhằm ưu tiên giảm thiểu phát thải tại nguồn, tái sử dụng, thu gom phân loại triệt để trước khi chuyển giao xử lý tiêu hủy an toàn.

Nghiên cứu tập trung vào ba khái niệm nền tảng:

  • Chất thải rắn y tế nguy hại: Bao gồm chất thải lây nhiễm lâm sàng từ nhóm A đến nhóm E (bông băng thấm dịch, vật sắc nhọn, bệnh phẩm xét nghiệm, dược phẩm quá hạn, mô cơ quan giải phẫu), chất thải phóng xạ từ khoa chẩn đoán hình ảnh và hóa chất độc hại nguy cơ cao.
  • Chất thải rắn thông thường: Bao gồm rác thải sinh hoạt từ buồng bệnh, bao bì đóng gói, giấy tờ hành chính và rác ngoại cảnh không dính dịch sinh học.
  • Suất phát thải chất thải rắn: Định mức khối lượng chất thải tính trên một người hoặc một giường bệnh trong một đơn vị thời gian (kg/người/ngày hoặc kg/giường/ngày).

Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào Luật Bảo vệ Môi trường Lào sửa đổi năm 2013 quy định phân loại chất thải thành 3 nhóm chính (chất thải lây lan, chất thải sắc nhọn, chất thải thông thường) và đối chiếu với khung quản lý 5 nhóm chất thải y tế theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế Việt Nam để làm nổi bật các khoảng trống tiêu chuẩn kỹ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm hiện trường:

  • Thu thập dữ liệu thành phần: Tác giả áp dụng phương pháp chia tư hình học trong phân tích chất thải rắn nhằm xác định chính xác cơ cấu phần trăm từng cấu tử trong khối rác mẫu thu gom tại các khoa.
  • Phương pháp xác định suất phát thải: Áp dụng công thức tính toán tốc độ phát thải của tác giả Phraiwan Poyai để tính định mức chất thải thông thường và chất thải nguy hại theo từng người và từng khoa phòng.
  • Điều tra khảo sát xã hội học: Cỡ mẫu điều tra gồm 3 nhóm đối tượng với tổng cộng 280 phiếu khảo sát và phỏng vấn trực tiếp toàn bộ nhân viên môi trường. Nhóm 1 gồm 150 cán bộ, bác sĩ và điều dưỡng được chọn ngẫu nhiên phân bổ đều tại các khoa. Nhóm 2 gồm 130 bệnh nhân và người nhà bệnh nhân điều trị nội trú. Nhóm 3 gồm toàn bộ đội ngũ nhân viên làm công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác của bệnh viện.
  • Khảo sát thực địa và cân mẫu: Quá trình đo đạc lưu lượng, cân trọng lượng mẫu rác thải thực tế được thực hiện liên tục mỗi ngày trong vòng 1 tháng tại 17 khoa phòng. Các phiếu điều tra phỏng vấn được phát và thu thập từ ngày 01/03/2018 đến ngày 01/06/2018.

Lý do lựa chọn cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cao, bao quát sự khác biệt về đặc tính chất thải giữa các khoa lâm sàng can thiệp sâu với các phòng ban hành chính quản trị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh chi tiết về dòng phát thải chất thải rắn tại Bệnh viện Savannakhet qua 4 phát hiện trọng tâm:

Khối lượng phát sinh chất thải rắn thông thường tập trung cao nhất ở các khối điều trị ngoại khoa và khu dịch vụ lưu trú. Khoa Mổ và Ngoại ghi nhận tổng khối lượng phát sinh chất thải thông thường lớn nhất đạt 1.602 kg/tháng (trung bình 55,22 kg/ngày; 0,62 kg/người/ngày). Tiếp theo là Khoa VIP đạt 1.587 kg/tháng (trung bình 54,7 kg/ngày; đạt mức phát thải bình quân cao nhất viện với 1,57 kg/người/ngày) và Khoa Nội I phát sinh 1.091 kg/tháng (trung bình 37,6 kg/ngày; 0,89 kg/người/ngày). Khoa Nội II cũng phát sinh tới 968 kg/tháng (33,4 kg/ngày).

Chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh mạnh nhất ở các khu vực cấp cứu và phẫu thuật hồi sức. Khoa Cấp cứu có lượng phát thải chất thải y tế lớn nhất toàn viện đạt 89 kg/tháng (trung bình 3,1 kg/ngày; 0,08 kg/người/ngày). Khoa Mổ và Ngoại phát sinh 78 kg/tháng (trung bình 2,7 kg/ngày), Khoa Nội I đạt 65,3 kg/tháng (2,3 kg/ngày) và Khoa Hồi sức tích cực đạt 52 kg/tháng (1,8 kg/ngày). Đáng chú ý, Khoa Tim mạch - Tiết niệu có suất phát sinh chất thải y tế nguy hại trên đầu người cao nhất đạt 0,42 kg/người/ngày (tổng 48 kg/tháng), do tính chất can thiệp thủ thuật xâm lấn dính máu thường xuyên.

Cơ cấu thành phần rác thải có sự khác biệt rõ rệt theo công năng từng khoa:

  • Rác hữu cơ và thức ăn thừa chiếm tỷ trọng áp đảo tại Khoa Cấp cứu (44,8%), Khoa Nội II (45,6%), Khoa Tim mạch - Tiết niệu (31%), Khoa Hồi sức tích cực (29,9%) và Khoa Nội I (28,4%).
  • Tã lót và bỉm chiếm thành phần chủ đạo tại các khoa chuyên biệt, chiếm tới 53,4% rác thải tại Khoa Sản, 41,9% tại Khoa Hồi sức tích cực và 30,5% tại Khoa Nhi.
  • Đồ nhựa dùng một lần và chai thủy tinh chiếm tỷ lệ đáng kể tại Khoa VIP với lần lượt 20% nhựa và 12% vỏ chai thủy tinh, phản ánh mức độ tiêu dùng cao của bệnh nhân điều kiện khá giả.

Quy trình quản lý kỹ thuật còn tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Kim tiêm và vật sắc nhọn chưa được tháo rời đúng quy chuẩn trước khi chuyển vào thùng chứa. Tình trạng vứt lẫn chất thải lâm sàng nguy hại vào túi rác sinh hoạt vẫn diễn ra. Bệnh viện sử dụng thùng sắt cỡ lớn của công ty môi trường đô thị nhưng không có khoang điều hòa lạnh, dẫn đến rác lưu trữ vượt quá giới hạn 24-48 giờ trước khi chuyển đi xử lý.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phát thải phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa đặc điểm lâm sàng, văn hóa sinh hoạt của người dân địa phương và điều kiện cơ sở hạ tầng. Nguyên nhân lượng rác thực phẩm chiếm trên 40% ở nhiều khoa xuất phát từ thói quen thân nhân mang thức ăn từ ngoài vào chăm sóc người bệnh dài ngày. Tỷ lệ bỉm và tã lót cao tại Khoa Sản (53,4%) và Hồi sức tích cực (41,9%) tạo nên nguồn chất thải có độ ẩm cao, gây khó khăn cho quá trình đốt tiêu hủy nếu không được phân tách riêng.

Dữ liệu phát thải của nghiên cứu rất phù hợp để trực quan hóa dưới dạng biểu đồ cột so sánh định ngạch phát sinh giữa 17 đơn vị làm việc và biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 12 thành phần rác thải tại từng khoa lâm sàng. Việc trực quan hóa này giúp các nhà quản trị nhận diện ngay lập tức điểm nóng phát thải nguy hại (như Khoa Cấp cứu với 89 kg/tháng hay Khoa Tim mạch với 0,42 kg/người/ngày) để ưu tiên nguồn lực can thiệp.

So với các tiêu chuẩn trong khu vực, việc quản lý rác y tế tại Lào còn thiếu hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết. Trong khi Việt Nam áp dụng bảng phân loại 5 nhóm chất thải kèm mã màu đồng bộ (vàng cho rác lây nhiễm, đen cho chất phóng xạ và hóa chất, xanh cho rác thông thường), Bệnh viện Savannakhet mới chỉ trang bị phương tiện thu gom cơ bản, thiếu máy hấp khử trùng tại chỗ và thiếu thiết bị lưu trữ lạnh đạt chuẩn 8°C để kéo dài thời gian lưu rác an toàn lên 72 giờ.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Savannakhet được xây dựng dựa trên 4 trụ cột hành động:

Chuẩn hóa hệ thống phân loại chất thải tại nguồn: Ban Giám đốc và Phòng Điều dưỡng cần triển khai lắp đặt đồng bộ hệ thống thùng rác 3 màu đạt chuẩn kèm hình ảnh hướng dẫn song ngữ tại 100% buồng bệnh và hành lang. Mục tiêu giảm tỷ lệ trộn lẫn rác lâm sàng vào rác sinh hoạt xuống dưới 3% trong vòng 6 tháng đầu áp dụng. Trang bị đầy đủ hộp kháng thủng chuyên dụng tại các xe tiêm để nhân viên tách kim tiêm ngay sau khi thao tác.

Nâng cấp cơ sở hạ tầng lưu trữ và khử trùng nội viện: Phòng Quản trị Hành chính chủ trì đề xuất xây dựng nhà lưu giữ chất thải y tế có mái che, sàn chống thấm và lắp đặt kho lạnh bảo quản nhiệt độ dưới 8°C nhằm đảm bảo rác lây nhiễm không phát tán mầm bệnh trong thời gian chờ vận chuyển. Dự án cần hoàn thiện lắp đặt hệ thống hấp tiệt trùng nhiệt độ cao trước tháng 12 năm 2019 để vô hại hóa 100% chất thải lây nhiễm trước khi chôn lấp.

Tổ chức đào tạo chuyên sâu và truyền thông thay đổi hành vi: Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn phối hợp Phòng Tổ chức mở 4 khóa tập huấn định kỳ mỗi năm cho 290 cán bộ y tế và 100% nhân viên vệ sinh môi trường về quy chuẩn an toàn sinh học. Cung cấp tờ rơi hướng dẫn phân loại rác cho 100% bệnh nhân và thân nhân khi làm thủ tục nhập viện, gắn chỉ tiêu quản lý rác thải vào đánh giá thi đua từng khoa.

Hoàn thiện cơ chế tài chính và kiểm tra giám sát: Sở Y tế tỉnh Savannakhet và Bộ Y tế Lào cần tăng định mức kinh phí bảo vệ môi trường cho bệnh viện thêm 25% hàng năm nhằm đảm bảo nguồn mua sắm vật tư tiêu hao. Thiết lập tổ giám sát độc lập kiểm tra nhật ký giao nhận rác hàng ngày, áp dụng chế tài xử phạt nghiêm đối với các đơn vị dịch vụ hàng quán bên trong khuôn viên bệnh viện vi phạm xả thải bừa bãi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Ban Giám đốc và cán bộ quản lý bệnh viện tại Lào: Luận văn cung cấp số liệu thực nghiệm để xây dựng đề án quản lý chất thải nội bộ, thiết lập định mức trang thiết bị thu gom (thùng rác, túi đựng, xe đẩy) và bố trí nhân lực vệ sinh hợp lý cho từng khoa phòng theo quy mô 200 giường bệnh.

Các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Y tế và Sở Tài nguyên Môi trường: Cung cấp bằng chứng khoa học thực địa để cơ quan quản lý nhà nước tại Lào sửa đổi, bổ sung các quy định kỹ thuật quốc gia về phân loại, vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế tương thích với tiêu chuẩn quốc tế.

Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Môi trường và Y tế công cộng: Tài liệu đóng vai trò là khung phương pháp luận mẫu về ứng dụng phương pháp chia tư hình học và công thức tính toán tốc độ phát thải để triển khai các đề tài nghiên cứu tương tự tại các đô thị đang phát triển.

Các doanh nghiệp dịch vụ môi trường và xử lý chất thải: Nắm bắt chính xác thành phần cơ cấu rác thải (với hơn 40% chất hữu cơ và 20% rác nhựa) để lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp như lò đốt rác chuyên dụng 2 cấp, tái chế nhựa y tế không lây nhiễm và tối ưu hóa tuyến đường xe thu gom tại tỉnh Savannakhet.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Savannakhet được ghi nhận ở mức nào? Khối lượng chất thải thông thường phát sinh lớn nhất tại Khoa Mổ và Ngoại với 1.602 kg/tháng, tiếp đến là Khoa VIP với 1.587 kg/tháng và Khoa Nội I với 1.091 kg/tháng. Đối với chất thải y tế nguy hại, Khoa Cấp cứu phát sinh cao nhất với 89 kg/tháng, theo sau là Khoa Mổ và Ngoại với 78 kg/tháng và Khoa Nội I với 65,3 kg/tháng.

Khung pháp lý nào đang điều chỉnh hoạt động quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Savannakhet? Hoạt động quản lý chất thải tại bệnh viện tuân thủ theo Luật Bảo vệ Môi trường Lào sửa đổi năm 2013. Luật quy định phân loại rác thành 3 nhóm cơ bản (chất thải lây lan, chất thải sắc nhọn và chất thải thông thường) với thời gian lưu trữ không quá 24 đến 48 giờ trong điều kiện nhiệt độ phòng.

Khoa phòng nào có tỷ lệ phát thải chất thải y tế nguy hại tính theo đầu người cao nhất? Khoa Tim mạch - Tiết niệu có suất phát sinh chất thải y tế nguy hại bình quân đầu người cao nhất bệnh viện đạt 0,42 kg/người/ngày (tổng 48 kg/tháng), tiếp theo là Khoa Hồi sức tích cực với 0,35 kg/người/ngày (tổng 52 kg/tháng) do đặc thù tiếp xúc dịch máu và thực hiện nhiều thủ thuật cấp cứu.

Phương pháp nào được tác giả sử dụng để xác định thành phần rác thải trong luận văn? Tác giả áp dụng phương pháp chia tư hình học trong phân tích chất thải rắn để bóc tách tỷ lệ phần trăm khối lượng của từng thành phần rác, kết hợp công thức tốc độ phát thải của Phraiwan Poyai và bộ phiếu khảo sát thực địa trên 150 cán bộ y tế cùng 130 bệnh nhân và thân nhân.

Những hạn chế kỹ thuật lớn nhất trong công tác xử lý rác tại bệnh viện là gì? Hạn chế lớn nhất là tình trạng rác lâm sàng nguy hại bị bỏ lẫn vào rác sinh hoạt, kim tiêm chưa tháo rời đúng cách, thiếu kho lạnh bảo quản khiến rác lưu trữ quá 48 giờ và phần lớn chất thải y tế vẫn được chuyển ra bãi rác công cộng để đốt lộ thiên hoặc chôn lấp chưa qua khử trùng.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn trên diện tích 25.000 m² tại Bệnh viện Savannakhet, đại diện cho mô hình cơ sở y tế tuyến tỉnh quy mô 200 giường tại Lào.
  • Khảo sát thực địa xác định tổng lượng chất thải thông thường cao nhất ở Khoa Mổ - Ngoại (1.602 kg/tháng) và Khoa VIP (1.587 kg/tháng); lượng chất thải y tế nguy hại lớn nhất ở Khoa Cấp cứu (89 kg/tháng) và suất phát thải đầu người cao nhất ở Khoa Tim mạch (0,42 kg/người/ngày).
  • Phân tích thành phần rác chỉ rõ sự chiếm ưu thế của thức ăn thừa (45,6% tại Nội II), bỉm tã lót (53,4% tại Khoa Sản, 41,9% tại Hồi sức tích cực) và rác nhựa (20% tại Khoa VIP).
  • Nghiên cứu chỉ ra những tồn tại lớn về quy trình phân loại tại nguồn, thiếu hụt thiết bị cắt kim tiêm và sự vắng bóng của kho bảo quản lạnh 8°C trước khi vận chuyển đến bãi rác công cộng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gồm chuẩn hóa thùng rác 3 màu, đầu tư thiết bị khử khuẩn, tập huấn định kỳ 4 khóa/năm cho 290 cán bộ và tăng 25% ngân sách môi trường hàng năm.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng bộ dữ liệu thực chứng hoàn chỉnh về định mức phát thải chất thải rắn y tế tại tỉnh Savannakhet. Lộ trình triển khai các khuyến nghị kỹ thuật cần được ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2019-2022 nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu có thể khai thác trực tiếp số liệu của đề tài để làm căn cứ quy hoạch môi trường bệnh viện xanh và an toàn sinh học.