mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm những nội dung cơ bản sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Hà Nội 5 z CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1.1 Định nghĩa về chất thải nguy hại Thuật ngữ “ chất thải nguy hại” được bắt đầu chấp nhận từ những năm 70 của thế kỷ XX và được đưa vào các văn bản pháp lý của Mỹ và các nước Châu Âu một vài năm sau đó. Theo cục bảo vệ môi trường Mỹ (US EPA) chất thải nguy hại được định nghĩa như sau: chất thải nguy hại là chất có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại có tiềm năng gây nguy hiểm đến sức khỏe cộng đồng và đối với chất lượng môi trường. Theo công ước Basel công bố năm 1995 về “kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới và đổ thải các loại chất thải nguy hại”, có 45 loại chất thải được xếp vào danh mục nguy hại nếu chúng có một hay nhiều 13 đặc tính nguy hại và được xếp theo mã số từ H1 đến H13 trong đó có những đặc tính nguy hại điển hình là dễ cháy, ôxi hóa, độc, lây nhiễm, ăn mòn và độc tính sinh thái. Theo định nghĩa về chất thải nguy hại ở Châu Âu, trong danh mục 850 loại chất thải thì có khoảng 429 loại được xếp là chất thải nguy hại với các đặc tính chính là độc, ăn mòn, dễ cháy và dễ phản ứng.
Ở Việt Nam: Theo luật bảo vệ môi trường 2005 được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005: chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác. Có thể nói cách khác, chất hại nguy hại là chất: - Có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại - Có thể gây nguy hại trực tiếp đến sức khỏe con người hoặc môi trường 6 z 1.2 Hệ thống quản lý chất thải nguy hại Do chất thải nguy hại có thể tồn lưu những độc tính trong một thời gian dài, có khi hàng thế kỷ, nên cần sớm giảm thiểu lượng chất thải nguy hại được thải bỏ. Việc giảm thiểu lượng chất thải nguy hại có thể được thực hiện thông qua các biện pháp giảm thiểu lượng chất thải phát sinh tại nguồn, xử lí, tái chế, hoặc tái sử dụng chất thải nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng của chúng tới môi trường. Theo kinh nghiệm về quản lý chất thải của các nước trên thế giới, một hệ thống quản lý chất thải nguy hại hữu hiệu khi hệ thống này biết gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố pháp lý với các chính sách - Công cụ pháp lý: Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý chất thải.
Bởi đây là nền tảng cho các hợp phần khác của toàn bộ hệ thống. Việc áp dụng một khung pháp lý có thể thực hiện ngay từ ban đầu, ví dụ như các hướng dẫn kĩ thuật được thực hiện dưới các điều khoản của luật pháp hiện hành, và cũng có thể cuối cùng được phát triển thành các văn bản pháp lí độc lập riêng về chất thải nguy hại. - Cƣỡng chế: Luật pháp thông thường chỉ là một khung, đòi hỏi các quy chế hướng dẫn và quy định thực hiện cụ thể phải được soạn thảo trước khi được triển khai. Để tiếp tục việc triển khai, cần có những giải pháp để cưỡng chế thi hành luật phù hợp trước khi công bố một biện pháp kiểm soát nào đó.
- Phƣơng tiện: không thể thực hiện và cưỡng chế thi hành luật pháp nếu như các văn bản pháp lý đó không có tính khả thi, ví dụ các quy định pháp lý yêu cầu chủ thải phải sử dụng loại phương tiện đối với loại chất thải nguy hại cụ thể nào đó trong khi các chủ thải không thể có được loại phương tiện yêu cầu hoặc trên thực tế chưa có loại phương tiện đó được áp dụng, do vậy, một hệ thống kiểm soát chất thải nguy hại cấp quốc gia sẽ phải bao gồm cả các biện 7 z pháp khuyến khích cung cấp các phương tiện phù hợp để quản lý thích hợp các chất thải nguy hại và các biện pháp để đảm bảo các phương tiện này được sử dụng. - Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ: Rất khó xây dựng một hệ thống kiểm soát chất thải nguy hại mà không có cơ sở hạ tầng về mặt kĩ thuật , do vậy cần có một năng lực nhất định về phòng thí nghiệm các thông tin kĩ thuật về phòng tư vấn, các kế hoạch đào tạo để cung cấp, ví dụ những thanh tra viên và những người vận hành có trình độ. Nhận thức về nhu cầu cần thiết đối với các hệ thống quản lý chất thải nguy hại tổng hợp mới chỉ có từ cuối thập kỉ 60 hoặc đầu thập kỉ 70 ở hầu hết các nước phát triển. Sau 20 năm hầu hết các nước phát triển thuộc khối OECD ngày nay đều có hệ thống quản lí hoàn thiện.
Nhìn chung các hệ thống này đã được phát triển một cách từ từ, dựa trên một hệ thống các hành động và biện pháp. Một khẳng định nữa là trong bất cứ một hệ thống kiểm soát ô nhiễm nào nói chung, hay một hệ thống quản lý chất thải nguy hại nào nói riêng, thì sự thành công của nó phụ thộc vào sự chấp nhận của các bên liên quan khác nhau, bao gồm: - Chính phủ: chính phủ cần đảm nhiệm các vai trò quan trọng để xây dựng một cơ sở xử lí chất thải nguy hại thành công như: o Chính phủ là người cưỡng chế những quy chế chất thải nguy hại đối với các chủ thải, đảm bảo sao cho chất thải phải được giao cho cơ sở xử lý để xử lý. o Chính phủ là người xúc tiến quá trình phát triển, tạo ra một môi trường để các chủ đầu tư cơ sở xử lí cảm thấy thoải mái; o Chính phủ là người kiểm soát bản thân cơ sở xử lí, vừa cưỡng chế các tiêu chuẩn môi trường thích hợp, vừa phải 8 z kiểm soát giá cả để đảm bảo rằng không có sự lạm dụng độc quyền; o Chính phủ là người giáo dục cho cả chủ thải và cộng đồng, đồng thời cơ sở xử lý phải được giao vai trò tích cực trong việc cải thiện môi trường. - Các chủ phát thải: thành phần bị kiểm soát bởi luật và được coi là đối tượng sẽ chịu phần lớn hoặc tất cả các chi phí, ít nhất là dài hạn, trên cơ sở người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Nhiều chủ thải, nhất là đối với những nguồn nhỏ có thể không nhận biết được rằng họ đang phát thải chất thải nguy hại. Đặc biệt là trường hợp đổ chất thải không kiểm soát vào nguồn nước mặt. trong những trường hợp như vậy cần có một chương trình giáo dục kèm theo các quy trình cưỡng chế. Một lưu ý khác nữa, theo quan điểm của các nhà công nghiệp, những người đang sinh ra nguồn chất thải lớn, thì họ chính là những người tạo ra nguồn chất thải lớn , thì họ chính là những người tạo ra thu nhập cho quốc gia về ngoại tệ, vì vậy có bất cứ một chi phí thêm nào cũng đều làm giảm khả năng của họ trên thị trường thế giới.
Họ có thể chấp nhận một cách miễn cưỡng yêu cầu phải trả tiền do gây ô nhiễm môi trường trong một thời kì lâu dài, nhưng họ không muốn và không thể chấp nhận một sự tăng chi phí cao vọt trong thời gian trước mắt. - Các nhóm quan tâm chuyên ngành: đại diện cho các viện, các trường đại học, cơ quan tư vấn, các cơ sở thí nghiệm thuộc nhà nước, họ là những người có quan tâm về chuyên môn trong việc ủng hộ việc xây dựng và tiếp tục vận hành hệ thống kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải nguy hại có hiệu quả. - Các nhóm công chúng: bao gồm các tổ chức phi chính phủ và công chúng nói chung có quan tâm trong việc bảo vệ môi trường nói chung và nơi họ đang ở nói riêng. 9 z Hầu hết những bên có liên quan cần có hiểu biết về sự cần thiết phải có một hệ thống quản lý chất thải nguy hại và cần phải ưu tiên cho vấn đề này.
- Nguồn phát sinh: các chất thải nguy hại thường phát sinh từ các nguồn thải khác nhau, chúng không còn khả năng giảm thiểu, phục hồi, tái sinh và tái sử dụng, cần được xử lý và thải bỏ theo một trình tự nhất định. - Thu gom và vận chuyển: thu gom toàn bộ chất thải phát sinh từ các nguồn thải khác nhau và được chuyển đến khu xử lý và hủy bỏ hoặc đến trạm trung chuyển hoặc đến nơi lưu trữ tạm thời, tùy thuộc vào điều kiện và khả năng cụ thể của từng khu vực và của các đơn vị, cơ sở để phát sinh ra nguồn thải. - Xử lí trung gian: Chất thải được xứ lý để giảm về khối lượng, được ổn định, giảm thiểu hoặc loại bỏ độc tính và làm cho phù hợp hơn đối với khâu thải bỏ cuối cùng. Các phướng pháp xử lý gồm xử lý cơ học, xử lý vật lý, hóa học, sinh học và nhiệt.
Có thể xử lý kết hợp hoặc riêng rẽ tùy theo loại chất thải cần được xử lý. Sản phẩm cuối cùng của những quá trình này gồm những chất thải ở dạng khí hoặc lỏng và cặn rắn được trừ độc, trơ hoặc ổn định. - Chuyên chở sau xử lý: Chất thải sau xử lý được chuyên chở tới nơi thải bỏ cuối cùng. - Tiêu hủy và đổ thải ( chôn lấp cuối cùng ): Phương thức chôn lấp chất thải nguy hại là khâu cuối cùng sau khi đã qua các quá trình xử lý.