Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lƣợng hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ trƣờng mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý chất lƣợng hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trƣờng mầm non ngoài công lập tại Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Biện pháp quản lý chất lƣợng hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trƣờng mầm non ngoài công lập tại Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Chất lƣợng GD nói chung và chất lƣợng GDMN nói riêng đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Có thể nhắc đến một số công trình nghiên cứu về quản lý các hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non nhƣ sau: Xakharnikova Larissa Eduardovna (đƣợc trích dẫn bởi Lê Thị Thu Ba, 2016) trong bài báo “Quản lý chất lượng giáo dục mầm non” cho rằng chất lƣợng GDMN phụ thuộc rất nhiều vào quản lý các yếu tố của quá trình CS – GD trẻ. Theo bà, chất lƣợng giáo dục bao gồm bốn yếu tố: chất lƣợng quản lý, chất lƣợng của quá trình giáo dục, chất lƣợng nguồn lực (nguồn lực và điều kiện cần thiết cho quá trình giáo dục); chất lƣợng của các kết quả của hệ thống giáo dục ở trƣờng mầm non.
(đƣợc trích dẫn bởi Lê Thị Thu Ba, 2016) cho rằng cần phải có sự phối hợp quản lý giám sát giữa chính quyền, trƣờng mầm non, cộng đồng và phụ huynh để nâng cao chất lƣợng chăm sóc giáo dục trẻ Callahan Darragh (Trƣờng Walden University- Mỹ) trong công trình: “Chất lượng trong dịch vụ nuôi dạy trẻ: vấn đề chất lượng chính là chìa khóa để đánh giá và quyết định lựa chọn trên thực tiễn” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lƣợng CS-GD đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Tác giả Lsa Valle Ivana & Smith Ruth (2009) trong cuốn sách: “Vấn đề nuôi dạy trẻ chất lượng cao, trong tương lai có nên áp dụng phổ biến?” đã bàn luận về vấn đề CS-GD trẻ, xây dựng trƣờng MN chất lƣợng cao và vấn đề áp dụng mô hình này trong thực tiễn. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu về chất lƣợng CS-GD trẻ, Pamela Morris Cybele Raver Chrishana M. Lloyd Megan Millenky (2010) với 7 “Vai trò của GV MN đối với chất lượng CS-GD trẻ” ; Alison Elliott (2006) với “Giáo dục trẻ mầm non hướng tới chất lượng và công bằng cho mọi trẻ em”. Nhìn chung, các tác giả ngoài nƣớc nghiên cứu về vấn về quản lý những hoạt động mang đến chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non quản ở các góc độ khác nhau.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Chất lƣợng GDMN đƣợc các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đặc biệt quan tâm, xem đây là vấn đề có tính cấp thiết, vấn đề thời sự trong GDMN hiện nay. Sau đây là một số công trình tiêu biểu: Phan Thị Hƣơng Loan (2017) với đề tài “Quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường mầm non công lập trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội”. Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, Tác giả cho rằng những kết quả đạt đƣợc ở lứa tuổi này có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển toàn diện trong suốt cuộ đời của đứa trẻ, điều này phụ thuộc nhiều vào chất lƣợng chăm sóc – giáo dục của nhà trƣờng, gia đình và xã hội. Qua đó tác giả đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non nói chung và ở trƣờng mầm non công lập trên địa bàn Quận Hai Bà Trƣng nói riêng.
Triệu Thị Hằng (2016) nghiên cứu về “Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng, Quận Đống Đa, Hà Nội”. Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục. Nghiên cứu nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ trong trƣờng mầm non Hoa Hồng bằng việc áp dụng một số biện pháp phù hợp, hiệu quả nhằm đạt mục tiêu GDMN. Lê Thị Thu Ba (2016) nghiên cứu với đề tài “Quản lý chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ ở các trường mầm non tư thục thành phố Hồ Chí Minh”.
Luận án Tiến sỹ khoa học giáo dục, đề tài đã hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận về quản lý chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ của các trƣờng mầm non tƣ thực. Xây dựng đƣợc bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ và quy trình quản lý chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ ở 8 các trƣờng mầm non tƣ thục TP. Tác giả cho thấy rằng QLCL CS-GD trẻ có nhiều mô hình và phƣơng pháp nhƣng phải gắn bó mật thiết với văn hóa chất lƣợng của nhà trƣờng, do đó khi đề xuất các giải pháp tang cƣờng hoạt động QLCL trong các trƣờng MNNCL phải vận dụng các mô hình, phƣơng pháp hiện đại và xây dựng văn hóa chất lƣợng nhà trƣờng. Cao Thanh Tuyền (2015) với đề tài” Quản lý hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ ở các trường Mầm non ngoài công lập tại Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh” Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục.
Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ ở các trƣờng mầm non, làm rõ thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ ở các trƣờng MNNCL Quận Bình Tân, TP. Từ đó tác giả có các kiến nghị cần thiết cho các đối tƣợng và cấp quản lý có liên quan. Trần Thị Ngọc Trâm (2013) trong đề tài nghiên cứu của mình” Đổi mới quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trong quá trình hội nhập quốc tế”. Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, khẳng định: giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí quan trọng đặc biệt trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực, phát triển trí tuệ con ngƣời Việt Nam, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài.
Tác giả nghiên cứu kinh nghiệm của một số nƣớc về quản lý cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập, cho thấy các nƣớc đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng của chăm sóc giáo dục trẻ những năm đầu đời của giáo dục mầm non. Theo xu thế hiện nay, cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập là một bộ phận không thể thiếu đƣợc trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển song hành cùng với các cơ sở giáo dục công lập. Còn ở Việt Nam, theo đánh giá của tác giả, trong những năm gần đây, với các chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển giáo dục mầm non và xã hội hóa giáo dục, loại hình cơ sở hình mầm non ngoài công lập có xu thế ngày càng phát triển. Mạng lƣới trƣờng lớp, quy mô giáo dục mầm non nói chung và các cơ sở nói riêng tiếp tục đƣợc củng cố và phát triển.
Đồng thời, tác giả đã nghiên cứu và đề xuất 3 9 mô hình cơ sở hình mầm non ngoài công lập và 6 giải pháp vĩ mô, 5 giải pháp vi mô quản lý cơ sở giáo dục mầm non công lập có hiệu quả trong quá trình hội nhập. Nguyễn Hữu Châu (2012) trong cuốn “Chất lượng giáo dục những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã xác định các tiêu chí và chỉ số chất lƣợng của hệ thống GDMN gồm 3 thành tố, 14 tiêu chí cơ bản và 63 chỉ số. Phạm Thị Châu (2005) với đề tài “Những biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của trường mầm non”. Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục.
Đề tài đã đề cập một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn của Ban giám hiệu và các cấp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ. Tuy vậy đề tài chƣa chú ý tập trung các biện pháp có tính toàn diện mà Hiệu trƣởng trƣờng mầm non phải vận dụng để nâng cao chất lƣợng chăm sóc giáo dục trẻ. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đƣợc nêu trên đa phần chƣa đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý chất lƣợng về hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ các trƣờng mầm non ngoài công lập mà chỉ tập trung vào việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở trƣờng mầm non, Tuy nhiên những cơ sở lý luận mà các tài liệu trên đã nêu là những căn cứ khoa học rất hữu ích cho việc nghiên cứu về công tác quản lý chất lƣợng hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ ở trƣờng mầm non nói chung và trƣờng mầm non ngoài công lập nói riêng. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý trường mầm non 1. Quản lý Trong xã hội loài ngƣời từ khi có sự phân công lao động thì hoạt động quản lý đã xuất hiện nhƣ một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Ngày nay, thuật ngữ “Quản lý” trở nên phổ biến, mọi hoạt động của tổ chức, xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý là một hoạt động diễn ra trong mọi 10 lĩnh vực, mọi cấp độ từ vĩ mô đến vi mô.
Quản lý trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề trong xã hội hiện đại - nghề quản lý. Trên thế giới và Việt Nam đều có nhiều lý luận và quan điểm về khái niệm quản lý : Theo C. Mac” Quản lý là lao động điều khiển lao động” (C.Mac – Ăngghen tr.350), Mác viết:” bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn, đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… một nhạc sĩ thì điều khiển lấy mình, nhƣng một dàn nhạc thì phải có nhạc trƣởng”. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nƣớc (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” (Trần Kiểm, 2003, tr.