CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Lao động nông thôn 1. Khái niệm - Khái niệm về nguồn lao động: Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì “nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm”.
Theo điểm 1 Điều 3 Luật Lao động 2012, “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động”. Nguồn lực lao động xét về mặt số lượng bao gồm dân số “đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động”, có việc làm được trả lương và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thuộc tình trạng khác như người nghỉ hưu trước tuổi… - Khái niệm nguồn lao động ở nông thôn: nguồn LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định tại điểm 1 Điều 3 Luật Lao động 2012 (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi)“có khả năng lao động đang làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lý do khác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế. Như vậy, có thể hiểu LĐNT là những người đủ 15 tuổi trở lên sinh sống ở khu vực nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng do những nguyên nhân khác nhau nên chưa tham gia hoạt động kinh tế. Đặc điểm lao động nông thôn: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 6 Một là, nguồn LĐNT mang tính thời vụ do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi.
Một loại cây trồng vật nuôi nhưng ở những vùng khác nhau thì có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau. Chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp mà không thể xóa bỏ đặc điểm này. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ, đời sống sản xuất và thu nhập của LĐNT. Đặc điểm về tính thời vụ này cũng dẫn đến phần lớn NLĐ nông thôn cần được bố trí việc làm trong những tháng rảnh rỗi để có thêm nguồn thu trang trải cuộc sống.
Hai là, qui mô nguồn LĐNT tăng nhanh đặc biệt trong những năm gần đây. Yếu tố quyết định số lượng lao động là dân số. Qui mô cơ cấu của nguồn lao động được quyết định bởi qui mô và cơ cấu của dân số. Với dân số khoảng 97 triệu người, Việt Nam có dân số đông thứ 2 trong khu vực và đứng thứ 14 trên thế giới.
Cơ cấu dân số trẻ với số người từ 16-35 tuổi chiếm khoảng 70% tổng dân số. Trong những năm gần đây, qui mô dân số và nguồn lao động ở nông thôn vẫn không ngừng tăng do tỷ lệ dân số và LĐNT cao. Ngoài ra, trình độ và nhận thức của người dân nông thôn kém hơn thành thị cũng là một lý do khiến dân số và LĐNT tăng nhanh. Ba là, chất lượng nguồn LĐNT chưa cao.
Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe là các yếu tố cơ bản để đánh giá chất lượng của NLĐ. Về trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: LĐNT nước ta chiếm hơn 3/4 lao động của cả nước nhưng trình độ chuyên môn của LĐNT lại quá thấp, kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Về sức khoẻ của NLĐ: do người LĐNTcó thu nhập thấp nên đời sống hàng ngày chưa được đáp ứng đầy đủ, còn thiếu thốn dẫn đến sức khỏe của nguồn lao động chưa đạt. Những mặt hạn chế của nguồn LĐNT chưa thể khắc phục ngay là trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý, tay nghề của LĐNT thấp.
Vì vậy, để có một nguồn lao động chất lượng cao thì cần có giải pháp, chính sách đào tạo phù hợp. Vai trò của lao động nông thôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 7 Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH đất nước, trong đó CNH-HĐH nền nông nghiệp được đặc biệt quan tâm. Do vậy nên LĐNTcó vai trò như sau: a. Nguồn LĐNT tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân: Trong giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động xã hội.
Quá trình giảm xuống của nguồn nhân lực nông nghiệp chia làm hai giai đoạn: - Giai đoạn đầu: khi nền kinh tế bắt đầu quá trình CNH-HĐH, nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất LĐNTdư thừa và được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất- dịch vụ. Do tốc độ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp thấp hơn tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp nên tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm tương đối, số lượng lao động tuyệt đối tăng lên. - Giai đoạn thứ hai: khi nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, NSLĐ nông nghiệp tăng nhanh và NSLĐ xã hội đạt trình độ cao. Các ngành khác đã thu hút hết số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng.
Do vậy giai đoạn này số lượng LĐNT giảm xuống. Nguồn LĐNT tham gia vào sản xuất lương thực thực phẩm: Việt Nam là nước nông nghiệp, nguồn LĐNTdồi dào. Nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càngtăng do sự phát triển của nền kinh tế và gia tăng dân số. Giai đoạn những năm 1980, nước ta phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, bình quân lương thực đầu người thấp, chỉ đạt 268,2 kg/người/năm.
Trong vài năm trở lại đây, số lượng lao động, trình độ chuyên môn, tay nghề, học vấn của NLĐ ngày càng được hoàn thiện, năng suất và sản lượng lương thực tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Lượng lương thực sản xuất ra không những đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước mà mà còn xuất khẩu thu được ngoại tệ về Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 8 cho quốc gia. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Nông – Lâm – Thuỷ sản Sản phẩm người nông thôn làm ra là yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản. Trong thời kỳ CNH-HĐH, ngành công nghiệp chế biến có vai trò rất quan trọng để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.
Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác và của chính ngành nông nghiệp Tại thời điểm Quý I năm 2019, với dân số hơn 97 triệu người và tỷ lệ LĐNT ước tính là 65.3% thì thị trường LĐNT là nơi tiêu thụ sản phẩm đầy tiềm năng cần được khai thác hiệu quả. Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Nghề và đào tạo nghề - Khái niệm nghề: Nghề là một khái niệm trừu tượng, khó có một cách hiểu cụ thể và rõ ràng. Có khá nhiều khái niệm về nghề được đưa ra.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư: “Nghề nghiệp là việc mà một người sẽ phải cố gắng để làm tốt công việc của mình sao cho phù hợp với khả năng, trình độ, lòng đam mê đối với nghề. Là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội”. Theo cuốn Sổ tay Tư vấn Hướng Nghiệp và chọn nghề, Nguyễn Hùng chủ biên, Nhà xuất bản Giáo Dục, xuất bản năm 2008: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau”.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “nghề”, nhưng về cơ bản, “nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc, nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh ra, phát triển và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 9 suy vong”. Về cơ bản, “nghề” có một số nét đặc trưng như sau: + Nghề là là công việc của NLĐ được lặp đi lặp lại. + Nghề là kỹ năng đặc biệt đòi hỏi một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy, ĐTN, dạy nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó.
+ Nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội và là phương tiện để sinh sống. Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn, trong đó hoạt động nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, nông dân là bộ phận dân cư chính của LĐNT. Sự khác nhau giữa khái niệm ĐTN nói chung và ĐTN cho LĐNT là ở đối tượng của ĐTN - những người LĐNT và những điều kiện gắn với quá trình ĐTN đó. - ĐTN: Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2014: “ĐTN nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn”. Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.