CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Khi nghiên cứu về bồi dưỡng nói chung và bồi dưỡng CB,CC nói riêng, các nghiên cứu thường được tiếp cận theo các lý thuyết liên quan như: các nguyên tắc học tập, các lý thuyết về thay đổi hành vi, các lý thuyết về động lực học tập hay lý thuyết hệ thống. Bên cạnh đó, khi bàn về kết quả, chất lượng và hiệu quả của các CTBD, các nghiên cứu thường đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hay hiệu quả của bồi dưỡng ở cả cấp độ cá nhân người học và ở cấp độ tổ chức (nơi người học làm việc). Các nghiên cứu bồi dưỡng CB,CC ở Việt Nam nói riêng cũng đi theo hướng này, thường tập trung nghiên cứu các yếu tố có tác động đến chất lượng hay hiệu quả của bồi dưỡng. Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu đi trước (đặc biệt là các nghiên cứu phân tích tổng hợp) liên quan đến hoạt động bồi dưỡng nói chung và bồi dưỡng CB,CC nói riêng lần lượt theo các nội dung: các nghiên cứu liên quan đến hoạt động bồi dưỡng nói chung, các nghiên cứu liên quan đến lý thuyết thay đổi hành vi, lý thuyết về động lực học tập, các nghiên cứu về kết quả, chất lượng, hiệu quả và đánh giá hoạt động bồi dưỡng, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng CB,CC ở Việt Nam.
Những phát hiện từ nghiên cứu tổng quan sẽ là cơ sở để phát triển nghiên cứu đề tài này trong những chương sau. Một số nghiên cứu liên quan đến chất lượng bồi dưỡng nói chung Các “nguyên tắc học tập” chung trong bồi dưỡng Các nghiên cứu liên quan đến hoạt động bồi dưỡng và đặc biệt là thiết kế các CTBD thường được dựa trên nền tảng khung lý thuyết về các “nguyên tắc học tập” chung. Theo đó, có bốn “nguyên tắc” hay bốn yếu tố trong hoạt động bồi dưỡng - chuyển giao kỹ năng là: nguyên tắc về các yếu tố môi trường đồng nhất; các nguyên tắc chung trong giảng dạy; nguyên tắc các yếu tố thúc đẩy; nguyên tắc về điều kiện làm việc. Các nguyên tắc này đặc biệt có vai trò và ý nghĩa khi nghiên cứu, xem xét để đánh giá chất lượng hoạt động bồi dưỡng [53].
Nguyên tắc về các yếu tố môi trường đồng nhất được hiểu là mức độ chuyển giao học hỏi trong một môi trường/ngữ cảnh này sau đó áp dụng trong một môi trường/ngữ cảnh sau, phụ thuộc vào mức độ tương đồng giữa môi trường/ngữ cảnh thứ nhất và môi trường/ngữ cảnh thứ hai. Chẳng hạn như, trong một khóa bồi dưỡng về văn hóa, người học phải đóng vai và tương tác với các đại diện của các nền văn 10 hóa khác nhau trong bối cảnh mô phỏng những môi trường làm việc điển hình. Bản chất của nguyên tắc các yếu tố đồng nhất là có càng nhiều yếu tố trong ngữ cảnh thứ nhất giống với ngữ cảnh thứ hai, thì người học càng dễ dàng vận dụng những điều đã học từ tình huống thứ nhất vào môi trường của tình huống thứ hai. Nguyên tắc chung trong giảng dạy khẳng định rằng, mức độ chuyển giao học hỏi trong hoạt động bồi dưỡng sẽ được tối đa hóa khi người dạy được trang bị đầy đủ các quy tắc chung và lý thuyết làm nền tảng cho nội dung đào tạo.
Nguyên tắc các yếu tố thúc đẩy học tập đóng một vai trò quan trọng trong quá trình học tập. Bản chất của nguyên tắc này chính là vận dụng, phát huy tất cả các yếu tố tích cực có tác động đến chất lượng của quá trình BD để khích lệ, tạo động lực học tập cho người học, giúp người học chủ động học tập và đạt được kết quả học tập cao. Nguyên tắc về các điều kiện làm việc được hiểu rằng, kết quả bồi dưỡng phụ thuộc vào từng điều kiện thực hành, học phải đi đôi với hành, phải được thực hành. Bên cạnh đó, việc đem những kiến thức được học để thực hành, áp dụng toàn bộ cũng sẽ khác với việc chỉ được thực hành từng phần.
Nói cách khác, kết quả học tập phụ thuộc nhiều vào mức độ được thực hành của người học và những tình huống thực tế cần được thiết kế nhiều trong hoạt động bồi dưỡng. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa điều kiện thực hành và điều kiện làm việc thực tế cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực sự của quá trình bồi dưỡng - chuyển giao kỹ năng làm việc. Theo đó, cần kết hợp làm giảm thiểu tối đa sự khác biệt giữa các điều kiện thực tiễn và các điều kiện trong môi trường học tập để đạt được kết quả tốt trong bồi dưỡng. Các nghiên cứu về lý thuyết thay đổi hành vi - mục tiêu của bồi dưỡng Mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng khi cần phải thay đổi thì việc phải tạo được động lực để người học thay đổi thái độ hay thay đổi hành vi là các vấn đề đòi hỏi các nhà nghiên cứu hướng đến và giải thích rõ ràng vì sao phải thiết lập cơ chế thay đổi thái độ/hành vi để đạt được mục tiêu.
11 Nếu nội dung bồi dưỡng liên quan đến cải thiện thái độ hay niềm tin thì CTBD cần được xây dựng dựa trên các lý thuyết về thái độ và thay đổi thái độ. Theo Bandura, Lipsher, Miller (1960) thì thái độ như là một yếu tố quyết định đến hành vi của chủ thể [51]. Theo học giả Rokeach, Rothman (1965) nghiên cứu dưới góc độ khoa học tâm lý xã hội thì thái độ của người học chính là ưu tiên đầu tiên trong quá trình BD. Chính vì vậy, dựa trên thái độ có thể giúp dự đoán các hành vi trong tương lai của người học [70], và các nhà nghiên cứu đã luận giải sự thay đổi về thái độ/hành vi thông qua hoạt động bồi dưỡng bằng một số lý thuyết như: thuyết tăng cường tích cực (Reinforcement Theory), thuyết hoà hợp (Congruity Theory), hay thuyết hoà hợp với niềm tin (Belief Congruence Theory).
Nghiên cứu của Insko và Butzine (1967) về thuyết tăng cường tích cực cho biết kết quả thay đổi thái độ của việc học được tạo ra thông qua việc bồi đắp cho người học dựa trên các yếu tố tích cực. Thuyết này hướng vào việc làm thay đổi hành vi của con người thông qua các tác động tăng cường, những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng được lặp lại, còn những hành vi không được khuyến khích (không được thưởng hoặc bị phạt) sẽ có xu hướng không lặp lại [60]. Đối với lý thuyết hoà hợp, thái độ có xu hướng đơn giản tối đa. Theo đó, xu hướng lựa chọn các hành động đơn giản vì chúng dễ thực hiện hơn sẽ được ưu tiên.
Nghiên cứu lý thuyết hoà hợp niềm tin của Rokeach và Rothman (1965) đã đánh giá: việc thay đổi hành vi được coi là kết quả của sự tương tác giữa hai thái độ: thái độ hướng đến đối tượng và thái độ hướng về hoàn cảnh. Do đó, kết quả thay đổi hành vi là kết quả của việc so sánh tầm quan trọng giữa hai thái độ. Hai thái độ này có ảnh hưởng đến hành vi theo tỷ lệ thuận với tầm quan trọng nhận thức của họ đối với mỗi thái độ [70]. Bên cạnh đó, với góc nhìn mở rộng về các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến việc thay đổi hành vi, nghiên cứu của Bandura, Lipsher và Miller (1960) đề xuất quan điểm học tập xã hội (là cơ sở cho lý thuyết nhận thức xã hội) cho rằng, con người bị điều khiển không phải bởi nội lực, mà còn bởi yếu tố bên ngoài (hoàn cảnh).
Theo đó, các hoạt động/hành vi của con người là do: thái độ, đặc điểm cá nhân và hoàn cảnh môi trường tạo nên. Do đó môi trường có tác động mạnh đến thái độ, hành 12 vi của con người được thể hiện ra và tác động đến bản năng, tạo đặc điểm riêng, tạo động lực và các động cơ thúc đẩy cá nhân [51]. Một số nhân tố làm nền tảng và có thể tác động vào quá trình học tập và thay đổi hành vi của bao gồm: • Tự tin vào bản thân - khả năng thực hiện hành vi. • Kết quả mong đợi - Quyết định về hậu quả có thể xảy ra đối với hành vi.
Mức độ quan trọng của những kỳ vọng này có thể thúc đẩy hành vi. • Tự kiểm soát - khả năng kiểm soát hành vi của một cá nhân. • Củng cố - một cái gì đó làm tăng hoặc giảm khả năng một hành vi sẽ tiếp tục. • Xử lý cảm xúc - khả năng của một cá nhân để xử lý với các cảm xúc.
• Học tập quan sát - tiếp thu các hành vi bằng cách quan sát các hành động và kết quả của hành vi khác [52]. Lý thuyết về hành vi có kế hoạch. Lý thuyết về hành vi có kế hoạch cho rằng hành vi phụ thuộc vào một ý định của người thực hiện hành vi. Ý định được xác định bởi thái độ (niềm tin và giá trị về kết quả của hành vi) của cá nhân và chuẩn mực chủ quan (niềm tin về người khác hoặc xã hội nói chung nghĩ về việc người đó nên làm).
Hành vi cũng được xác định bởi sự kiểm soát nhận thức cá nhân, như nhận thức về khả năng của họ hay cảm giác tự tin để thực hiện hành vi [53]. Lý thuyết các bước thay đổi cho rằng, thay đổi là một quá trình gồm sáu giai đoạn. Chuẩn bị trước là giai đoạn mọi người không có ý định tạo ra sự thay đổi trong tương lai gần (thường được coi là 6 tháng tới). Chiêm nghiệm là giai đoạn mọi người có ý định thay đổi (trong vòng 6 tháng tới).
Mọi người trong giai đoạn này nhận thức được những ưu điểm của việc thay đổi nhưng cũng có thể xác định được nhược điểm. Chuẩn bị đại diện cho giai đoạn mọi người có kế hoạch hành động và dự định hành động trước mắt (trong vòng một tháng). Hành động là giai đoạn mọi người thực hiện thay đổi hành vi và duy trì đại diện cho giai đoạn mọi người làm việc để ngăn chặn tái phát. Cuối cùng, chấm dứt thể hiện giai đoạn mà các cá nhân có 100% hiệu quả và sẽ duy trì hành vi của họ.
Giai đoạn này là khó khăn nhất để duy trì, vì vậy nhiều người vẫn duy trì suốt đời [65]. Các nghiên cứu về động lực học tập trong bồi dưỡng Động lực học tập được coi là một trong bốn yếu tố cần được đặc biệt quan tâm trong thực hiện các nguyên tắc chung về BD.