Mở đầu; 2 chương (6 tiết); Kết luận và kiến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. Luan van 15 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NHÂN LỰC PHÒNG XÉT NGHIỆM Ở CÁC BỆNH VIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhân lực phòng xét nghiệm ở các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh Để hiểu rõ khái niệm về nhân lực phòng xét nghiệm ở các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, cần làm rõ khái niệm về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực (Human Resource) là một khái niệm ra đời muộn hơn so với khái niệm “Vốn con người” hay “Tư bản người” (Human Capital). Khái niệm nguồn nhân lực bổ sung cho khái niệm Vốn con người để giúp nhà quản lý điều hành quá trình tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội theo hướng bền vững. Hiện nay, tùy theo mục đích nghiên cứu, có rất nhiều quan niệm không hoàn toàn giống nhau về nguồn nhân lực. Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức (không kể đó là ai), được biểu hiện ra ở sức óc, sức bắp thịt, thần kinh của cá nhân đó (trạng thái tĩnh).
Có ý kiến quan niệm, nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể (bao gồm cả các yếu tố về vật chất và tinh thần) tham gia vào quá trình lao động (trạng thái động). Ngoài ra, cũng có ý kiến nhấn mạnh về khía cạnh trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp khi nói về nguồn nhân lực hoặc tiếp cận ở tầm vĩ mô như Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó” [20]. Tác giả Văn Đình Tấn, quan niệm: “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại Luan van 16 và tương lai của đất nước” [34]. Còn tác giả Vũ Xuân Tiến đưa ra khái niệm: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định [35].
Qua các khái niệm trên cho thấy, nói đến nguồn nhân lực là phải thỏa mãn các điều kiện: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người; Nguồn nhân lực bao giờ cũng đặt trong một tổ chức xã hội nhất định. Mỗi một tổ chức muốn tồn tại và phát triển đều phải có sự chi phối của rất nhiều yếu tố; trong đó, yếu tố quan trọng nhất là con người; con người là nhân tố giữ vị trí trung tâm đối với các nhân tố khác trong sự phát triển của tổ chức. Nói cách khác, nguồn nhân lực của một tổ chức là tất cả người lao động làm việc trong tổ chức đó; Nói đến nguồn nhân lực là đề cập đến số lượng, chất lượng con người, bao gồm: thể chất, tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực và phẩm chất của người lao động. Theo đó, có thể hiểu, nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng của tất cả những con người hoạt động trong một tổ chức, một cơ cấu xã hội nhất định, được biểu hiện thông qua sức khỏe, tinh thần, trí tuệ, phẩm chất, năng lực hoạt động của họ.
Từ khái niệm về nguồn nhân lực, xem xét nhân lực phòng xét nghiệm ở các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, có thể thấy: Đó là tất cả những người có trong biên chế hoặc không trong biên chế, làm việc tại các phòng xét nghiệm các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là những người được đào tạo ở các trình độ chuyên môn khác nhau, từ sơ cấp đến sau đại học; có sức khỏe bảo đảm để làm việc theo yêu cầu công việc; có phẩm chất phù hợp với công việc được phân công và những kinh nghiệm được tích lũy theo năm, tháng công tác. Luan van 17 Theo sự phân công của tổ chức, mỗi người (hoặc nhóm người) đảm nhiệm một công việc khác nhau trong guồng máy hoạt động của phòng xét nghiệm bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhân lực làm việc tại phòng xét nghiệm các bệnh viện bao gồm lực lượng làm công tác chuyên môn kỹ thuật xét nghiệm Y học (chiếm đa số) và lực lượng phục vụ cho công tác chuyên môn (bảo trì, sửa chữa máy móc, trang thiết bị, hấp khử khuẩn, rửa sấy dụng cụ…).
Có 3 đối tượng chính làm việc chuyên môn trong phòng xét nghiệm: Lãnh đạo phòng xét nghiệm: Là nhân sự có ảnh hưởng lớn lao đến sinh mệnh của phòng xét nghiệm. Hoạt động của phòng xét nghiệm đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức, sâu, rộng về chuyên ngành xét nghiệm và có tấm lòng yêu nghề, hết lòng vì nghề Xét nghiệm; đồng thời, phải là người có năng lực lãnh đạo, quản lý, quán xuyến mọi công việc của phòng và thật sự công tâm, dân chủ,… trong đánh giá, sử dụng con người. Kỹ thuật viên xét nghiệm: Là lực lượng làm việc chiếm đa số trong phòng xét nghiệm. Kỹ thuật viên xét nghiệm là những người được đào tạo ở các trình độ khác nhau: đại học, cao đẳng hay trung cấp về xét nghiệm; họ làm việc tại các khoa, phòng xét nghiệm của bệnh viện từ tuyến trung ương tới các cơ sở khám chữa bệnh hoặc trong các cơ sở đào tạo Y tế của Thành phố.
Công việc của kỹ thuật viên xét nghiệm được thể hiện với nhiều nhiệm vụ đặc thù của chuyên ngành như: Tổ chức, đón tiếp, trực tiếp lấy bệnh phẩm (máu, dịch tiết) của bệnh nhân hay giúp đỡ, hướng dẫn bệnh nhân tự lấy bệnh phẩm sao cho đúng cách (phân, đờm, nước tiểu.) để làm xét nghiệm. Tại một số bệnh viện, trung tâm, điều dưỡng, y tá được tuyển dụng rồi bồi dưỡng thêm để đảm nhiệm chuyên nghiệp công việc này. Pha hóa chất, thuốc thử và chuẩn bị các phương tiện, dụng cụ, để thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm. Luan van 18 Thực hiện rất nhiều kỹ thuật xét nghiệm khác nhau như: xác định vi sinh vật, ký sinh trùng gây bệnh, phân tích các chất trong máu, dịch sinh vật, thực hiện công tác an toàn truyền máu và kiểm tra hiệu quả điều trị của thuốc… Có những xét nghiệm phải thao tác bằng tay, có xét nghiệm phải thao tác thành thạo trên những trang thiết bị tự động hoá hiện đại để cung cấp những kết quả xét nghiệm trợ giúp cho các bác sĩ lâm sàng.
Thiết lập, điều chỉnh và kiểm tra các quy trình kỹ thuật để đảm bảo chất lượng các xét nghiệm. Tham gia nghiên cứu khoa học, tham gia đào tạo và tự đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới. Bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, cử nhân khác làm nhiệm vụ xét nghiệm: Đây là lực lượng có chức danh khoa học và học vị, cùng làm việc chung với kỹ thuật viên. Nếu số này có tâm huyết với nghề xét nghiệm, chịu khó học tập và bồi dưỡng thêm kinh nghiệm thực tế về nghề này, thì đây là một lực lượng vô cùng quý báu, làm cầu nối giữa lâm sàng và cận lâm sàng, giữa kỹ thuật viên và các máy móc, trang thiết bị; đó là sự phối hợp tuyệt vời để mang đến những kết quả xét nghiệm tốt nhất cho bệnh nhân.
Nhưng, nếu rơi vào tình huống ngược lại, họ sẽ là một gánh nặng cho các phòng xét nghiệm. Như vậy, nhân lực phòng xét nghiệm các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh là tổng thể tiềm năng của đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên, nhân viên chuyên môn kỹ thuật xét nghiệm và lực lượng làm công tác phục vụ trong cơ cấu tổ chức của phòng xét nghiệm các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, được biểu hiện thông qua sức khỏe, tinh thần, trí tuệ, phẩm chất, năng lực công tác,… của họ. Hoạt động bồi dưỡng nhân lực phòng xét nghiệm các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh Theo nghĩa rộng, hoạt động bồi dưỡng được hiểu là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân Luan van 19 cách theo mục đích đã chọn. Còn theo nghĩa hẹp, đó là trang bị thêm kiến thức, nhằm nâng cao, hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.
Để hiểu rõ khái niệm về hoạt động bồi dưỡng, cần có sự phân biệt với hoạt động đào tạo. Xét về nội dung kiến thức truyền tải, đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo theo quy định của từng cấp học, bậc học. Thông thường, đào tạo được cho là “quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,. một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định” [9].
Đào tạo được xem như một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Trong khi đó, bồi dưỡng được hiểu là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Xét về mặt thời gian, đào tạo có thời gian dài hơn bồi dưỡng (thường là từ một năm học trở lên).
Xét về bằng cấp, đào tạo có bằng cấp chứng nhận trình độ được đào tạo; còn bồi dưỡng nếu được học theo chương trình, kế họach sẽ được cấp chứng chỉ, chứng nhận đã học qua khóa (lớp ngắn hạn) bồi dưỡng. Theo Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, các từ ngữ “đào tạo” và “bồi dưỡng” được hiểu như sau: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học, gắn với việc cấp văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Bồi dưỡng dài hạn là hoạt động bồi dưỡng có thời gian từ đủ 03 tháng trở lên.
Bồi dưỡng ngắn hạn là hoạt động bồi dưỡng có thời gian dưới 03 tháng.