chương 1 của luận văn. Việt Nam Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tham vấn học đường và đào tạo, bồi dưỡng tham vấn học đường, cụ thể: Các nghiên cứu về tham vấn học đường Nghiên cứu về Nội dung tham vấn giới tính của học sinh của nhóm tác giả Ngô Đình Qua (2006) đã đưa ra kết luận là cả học sinh THCS và học sinh THPT đều có nhu cầu được tham vấn về tâm lí - giới tính, nhưng số học sinh THPT có nhu cầu chiếm tỉ lệ % cao hơn. Nhu cầu này chưa được người lớn đáp ứng đầy đủ vì vậy cần phải có phòng tham vấn tâm lí giáo dục đặt tại các trường trung học [1. Lê Sơn, Lê Hồng Minh trong cuốn Giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ tham vấn học đường đã cung cấp cơ sở lý luận về Tham vấn học đường ra đời và phát triển nghiệp vụ, trong chương 2 các tác giả đã nhấn mạnh đến Mục tiêu tham vấn học đường ở các cấp học, đặc biệt trong chương 3, các tác giả phân tích yêu cầu về phẩm chất tham vấn viên học đường, trong chương 5 các tác giả phân tích về tham vấn tâm lý và kỹ năng cơ bản gồm: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng truyền thông; Kỹ năng khởi dậy; Kỹ năng hỗ trợ quyết định của thân chủ [1.
Các tác giả Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Tứ, Nguyễn Thị Diễm My, Đặng Hoàng An nghiên cứu về Thực trạng đội ngũ làm công tác tham vấn học đường hiện nay, kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng người làm công tác tham vấn học đường/trường tăng không đồng đều trong 5 năm gần đây và số lượng còn hạn chế; phần lớn các trường phổ thông hiện nay đã có phòng dành cho công tác tham vấn học đường nhưng chủ yếu là phòng không chuyên, sử dụng các phòng chức năng khác để thay thế; số lượng người làm công tác tham vấn học đường/trường phân bố không đồng đều theo 7 c bậc học và điểm đáng lưu ý ở bậc mầm non và tiểu học số lượng đạt dưới mức tỷ lệ 1; và số lượng người làm công tác tham vấn học đường chủ yếu là kiêm nhiệm [1. Trong Tài liệu tập huấn kỹ năng tham vấn học đường đã trình bày những vấn đề chung về tham vấn học đường như Khái niệm về tham vấn tâm lý, phân biệt giữa tham vấn và tham vấn; Nguyên tắc đạo đức trong tham vấn cho học sinh tại trường học; Trong chương 2 trình bày các kỹ năng tham vấn cơ bản, đó là các kỹ năng: Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng đặt câu hỏi; Kỹ năng phản hồi; Kỹ năng xử lý im lặng; Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng thách thức; Kỹ năng đánh giá và thiết lập mục tiêu; Kỹ năng tìm kiếm giải pháp [1. Trong Tài liệu bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý trong trường phổ thông đã tập trung vào các vấn đề chính như: Những vấn đề cốt lõi về tư vấn, tham vấn tâm lý, phương pháp, quy trình, kỹ năng cơ bản trong hoạt động tư vấn, tham vấn tâm lý; Những phương pháp, hình thức, quy trình, kỹ năng tham vấn tâm lý trong các lĩnh vực thường gặp khó khăn, trở ngại hay tổn thất, thiệt thòi, lệch lạc của học sinh từ tiểu học đến trung học cơ sở. Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra công văn số: 4436/BGDĐT-CTHSSV về việc hướng dẫn thực hiện công tác học sinh, sinh viên, giáo dục thể chất và y tế trường học năm học 2016- 2017.
Tại công văn này với những hướng dẫn thực hiện công tác học sinh, sinh viên, giáo dục thể chất và y tế học đường năm học 2016-2017, Bộ đã chỉ ra nội dung quan trọng cho công tác tham vấn học đường: Thành lập bộ phận tham vấn tâm lý cho học sinh trong các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; bố trí cán bộ, giáo viên chuyên trách (hoặc kiêm nhiệm) làm công tác tham vấn tâm lý. Tiếp tục đa dạng hóa nội dung, xây dựng và nhân rộng mô hình tham vấn tâm lý nhằm triển khai có hiệu quả công tác tham vấn tâm lý trong nhà trường; Các sở giáo dục và đào tạo tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, bố trí các nguồn lực để thực hiện tốt công tác tham vấn tâm lý trong các trường phổ thông, đồng thời đẩy mạng xã hội hóa hoạt động các nguồn lực cho công tác tham vấn tâm lý; Các cơ sở giáo dục tổ chức hiệu quả hoạt động đối thoại giữa người học với các thầy giáo, cô giáo và lãnh đạo nhà trường để nắm bắt và xử lý kịp thời tâm tham, nguyện vọng của người học…. Các nghiên cứu về bồi dưỡng tham vấn học đường 8 c Công văn 9971/BGD&ĐT-HSSV, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào tạo và trường học về việc “Triển khai công tác tham vấn cho học sinh, sinh viên”, đồng thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” trong trường học. Quyết định số 1876/QĐ-BGDĐT ngày 21/5/2018 của Bộ GDĐT về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng năng lực tham vấn cho giáo viên phổ thông làm công tác tham vấn tâm tý cho học sinh đã chứng tỏ các cấp lãnh đạo ngành giáo dục đã bước đầu quan tâm đến việc phát triển và cung cấp các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh viên nhằm giúp các em ngoài việc được trang bị tốt về văn hoá còn có một sức khoẻ tinh thần khoẻ mạnh và lành mạnh [1.
Tại hội thảo “Đào tạo chuyên gia tham vấn học đường trong bối cảnh cách mạng 4.0” do Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 23.2018, theo kết quả cuộc khảo sát mà Bộ GD&ĐT từng công bố sau khi tiến hành ở một số trường phổ thông và Đại học tại Hà Nội, Hải Dương, có đến 93,57% HS, sinh viên được hỏi gặp phải những khó khăn, vướng mắc cần phải chia sẻ trong học tập và đời sống hằng ngày. Tỉ lệ này ở bậc phổ thông là 95,33% và đại học là 85,92%. Đặc biệt, ở lứa tuổi HS phổ thông, mức độ thường xuyên có những vướng mắc và cần chia sẻ là 80,17%, cao hơn bậc đại học. Bộ GD&ĐT định hướng nghiên cứu mô hình Văn phòng tham vấn học đường đa nhiệm theo cụm trường để sớm quyết định triển khai thay thế mô hình “Giáo viên kiêm nhiệm”.
Trước mắt giai đoạn 2018-2020 kết hợp bồi dưỡng, cấp chứng chỉ quốc gia tham vấn học đường cho giáo viên kiêm nhiệm với đào tạo chính quy [1. Các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực tham vấn học đường Nguyễn Xuân Đoàn (2018), trong công trình Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên [1.7] đã phân tích quá trình quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho GV phải tuân thủ theo những nguyên tắc quản lí nhất định từ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức bồi dưỡng, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng và kiểm tra kết quả bồi dưỡng được thực hiện bằng các phương pháp quản lí khác nhau, đồng thời quá trình này cũng chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, tác giả đề xuất năm biện pháp: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, giáo viên về bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên; 9 c Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên phù hợp với thực tiễn các trường; Huy động nguồn lực tổ chức bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên; Tổ chức kiểm tra, đánh giá năng lực tư vấn giáo dục của GV; phát huy vai trò của đội ngũ GV cốt cán trong việc triển khai hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho GV; Đổi mới nội dung và phương pháp bồi dưỡng, đa dạng hóa các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục theo hướng tích cực hóa người học, gắn tự bồi dưỡng với nghiên cứu khoa học. Bài viết của tác giả Đặng Thị Bích Nga về Thực trạng quản lý hoạt động tham vấn học đường ở các trường THCS quận 11, thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định: Để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động tham vấn học đường, công tác quản lí hoạt động này của hiệu trưởng ở các trường THCS là rất cần thiết.
Việc xây dựng một mạng lưới chuyên trách tham vấn học đường cho HS với sự lồng ghép những kiến thức về tâm lí, giáo dục sẽ giúp cho việc phát hiện sớm những biểu hiện bất thường của HS, giúp HS phòng ngừa và điều chỉnh những hành vi sai lệch của mình, có đủ sức khỏe và trí tuệ để tiếp thu, lĩnh hội tri thức ở nhà trường, tạo điều kiện cho việc phát triển nhân cách một cách hài hòa, toàn diện. Vì vậy, phải chú trọng đến hoạt động bồi dưỡng năng lực tham vấn học đường cho GV làm công tác này [1. Như vậy, những nghiên cứu ở Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tham vấn học đường trong nhà trường, đặc biệt mô hình Văn phòng tham vấn học đường đa nhiệm theo cụm trường do Bộ GD&ĐT định hướng rất có giá trị trong việc đáp ứng nhu cầu tham vấn học đường của HS nói chung và HS THCS nói riêng. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực tham vấn học đường cho GV các trường THCS thành phố Cao Bằng, vì vậy, đây là khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu và bổ sung lý luận, đánh giá thực trạng để đưa ra các biện pháp có tính cần thiết và tính khả thi trong quá trình vận dụng vào thực tiễn.
Một số khái niệm cơ bản 1.Quản lý Harold Koontz cho rằng “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định” [1. 10 c Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [1. Như vậy, khi đề cập đến khái niệm quản lý, các tác giả đều có điểm thống nhất chúng: đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt mục tiêu nhất định.