Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho GV dạy môn KHTN ở trường THCS. Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho GV dạy môn KHTN ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho GV dạy môn KHTN ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC TÍCH HỢP CHO GIÁO VIÊN DẠY MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về dạy học tích hợp ở trường phổ thông Viết về năng lực chuyên môn, dạy học của giáo viên, tác giả Liakopoulou (2011) đã đưa ra khái niệm năng lực chuyên môn và phân loại “năng lực chuyên môn của giáo viên” bao gồm các thành tố sau đây: 1. Tính cách, thái độ và niềm tin; 2. Kỹ năng sư phạm và kiến thức sư phạm (kiến thức môn học, kiến thức và hiểu biết về người học, phương pháp giảng dạy, kiến thức về chương trình giảng dạy); 3.
Hiểu biết về bối cảnh xã hội; 4. Hiểu biết về bản thân về khoa học nói chung [dẫn theo 36]. Viện Giáo dục Quốc gia, Singapore (2009), cũng xác định các năng lực chủ yếu của giáo viên như: có các kiến thức và phương pháp nuôi dạy trẻ em, có các năng lực tư duy, sáng tạo trong dạy học. có các kĩ năng sư phạm, quản lý con người, tự quản lý, kĩ năng công nghệ, tự đổi mới và kinh doanh, sự hiểu biết về xã hội và xúc cảm; có các kiến thức, hiểu biết về bản thân, học sinh, xã hội, nội dung môn học, sư phạm, nền tảng và chính sách giáo dục, chương trình giảng dạy, hiểu biết đa văn hóa, nhận thức toàn cầu, nhận thức về môi trường…[dẫn theo 36].
Ủy ban châu Âu (2007) nhận ra rằng: "giáo viên có một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh có chỗ đứng trong xã hội và nơi làm việc”, vì thế Ủy ban Châu Âu đề xuất rằng “Tại mỗi thời điểm trong sự nghiệp của mình, giáo viên cần phải có, và được yêu cầu có đầy đủ các kiến thức môn học, thái độ và kỹ năng sư phạm để giúp đỡ thế hệ trẻ phát huy tối đa tiềm năng của họ” [dẫn theo 36]. Phát triển chuyên môn cho giáo viên là trách nhiệm hàng đầu của hiệu trưởng ở một trường học nơi đặt chất lượng giáo dục lên vị trí hàng đầu. Hiệu trưởng là người xây dựng các kế hoạch triển khai những nội dung mới về dạy học, giáo dục, đưa ra các bước thực hiện các hoạt động bồi dưỡng, phát triển tiềm năng lãnh đạo chuyên môn của giáo viên. Hiệu trưởng đưa ra các chỉ dẫn dạy học, kiểm tra, đánh giá, đôn đốc, động viên giáo viên và người học để họ học tập tốt và dạy học tốt.
Ngày nay những chỉ dẫn này được tiến hành thông qua các phương tiện kĩ thuật số, qua trao đổi trực tiếp và qua hệ thống thư điện tử hay các diễn đàn dạy học. Nhờ các phần mềm, giáo viên có 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể đưa các bài học, các tư liệu lên mạng và thay đổi hay bổ sung bài học cho nhau qua cấu trúc wiki hay các blogs (Senge, 2/1996) [dẫn theo 36]. Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hoà, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất. Dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến thức, kĩ năng, thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung và hoạt động dạy học để hình thành và phát triển năng lực thực hiện hoạt động cho người học; tạo ra mối liên kết giữa các môn học và tri thức, giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và tính tích cực học tập.
Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, các khoa học tự nhiên đã nghiên cứu giới tự nhiên theo tư duy phân tích, mỗi khoa học tự nhiên nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất trong tự nhiên. Tuy nhiên, bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất, vì vậy, sang thế kỉ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, đa ngành. Các khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận “phân tích - cấu trúc" sang tiếp cận “tổng hợp - hệ thống". Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp (cả hai thao tác này đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức) đã tạo nên tiếp cận “cấu trúc - hệ thống" đem lại cách nhận thức biện chứng về quan hệ giữa bộ phận với toàn thể.
Ở một số nước trên thế giới, dạy học theo quan điểm tích hợp đã được áp dung từ những năm 80 của thế kỉ XX. Tích hợp có nơi được xem như nguyên tắc tổng quát của việc xây dựng cả hệ thống chương trình. Ví dụ chương trình Tiểu học ở Ma-lai-xi-a được gọi là “The intergrated curriculum for Primary school” (Chương trình giảng dạy tích hợp cho trường Tiểu học) do Bộ GD&ĐT Ma-lai-xi-a công bố lần đầu năm 1997 [7]. Thực hiện hướng tích hợp có thể dẫn tới sự ra đời của những bộ sách giáo khoa nhiều môn (multimanuel) như “bộ sách giáo khoa nhiều môn” dùng cho bậc tiểu học nhiều nước Châu Phi - tích hợp 7 môn học: Tiếng Pháp, Toán, Sinh học, Công nghệ, Sử, Địa, Giáo dục công dân xung quanh các chủ đề khác nhau, mỗi chủ đề dạy trong hai tuần do Nhà xuất bản EDICEF xuất bản ở Pháp năm 1995 [dẫn theo 20].
Cũng theo hướng tích hợp, người ta có thể kết hợp hai bộ môn tưởng chừng rất xa nhau như Văn học và Sinh học để viết ra những công trình như Nghiên cứu việc soạn thảo văn bản theo thể loại (Exploring the writing of genres) nhằm hướng dẫn cách viết các thể loại tự sự, nghị luận, thuyết minh, báo cáo,… bằng chất liệu của môn Thực vật học (Theo Hiệp hội đọc sách Vương Quốc Anh, 1996) [dẫn theo 20]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chương trình tích hợp ở các nước trên thế giới có thể được thực hiện ở các mức độ khác nhau: từ phối hợp, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn. Ở mức độ thấp có sự phối hợp về nội dung, phương pháp của một số môn có liên quan nhưng mỗi môn cần đặt trong một phần hay một chương riêng. Tích hợp ở mức độ cao hơn có sự kết hợp chặt chẽ trong nội dung, đặc biệt là những phần giao nhau của các môn học này.
Tích hợp ở mức độ cao nhất được thực hiện ở nội dung của các môn học được hòa vào nhau hoàn toàn thành một chỉnh thể mới đạt mục tiêu đề ra một cách hiệu quả và tiết kiệm hơn về nội dung, thời gian. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau như nội dung, cách thức, hiệu quả,… của việc dạy học tích hợp trong nhà trường phổ thông. Ở nước ta, trước những năm 80 của thế kỉ XX, quan điểm dạy học tích hợp chưa thực sự được nghiên cứu một cách hệ thống. Tinh thần liên môn cũng được đề cập song trên thực tế chưa được thể hiện trong nội dung chương trình.
Các quan điểm nghiên cứu về sư phạm tích hợp mới chỉ dừng lại ở mức sắp xếp các phân môn “đứng cạnh nhau” mà chưa vận dụng vào trong dạy học do chưa thấy sự liên kết chặt chẽ, giao nhau, tích hợp với nhau của các đơn vị kiến thức. Cuối những năm 80, đặc biệt là những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề nghiên cứu về một khoa học thống nhất trên quan điểm phân tích hệ thống và theo quan điểm tiếp cận tích hợp trong giáo dục nhằm hình thành và phát triển các năng lực cho người học mới thực sự được quan tâm [dẫn theo 20]. Những năm gần đây, khi xu thế hội nhập quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến giáo dục Việt Nam, nhiều công trình khoa học đã tập trung bàn về vấn đề dạy học tích hợp và phân hóa. Bắt đầu với tích hợp đa môn ở bậc giáo dục Tiểu học thành môn học mới: Tự nhiên và xã hội, sau đó là tích hợp nội môn với môn học Ngữ văn ở THCS và THPT.
Có thể kể tên một số nhà nghiên cứu có nhiều gắn bó với giáo dục Việt Nam, tham gia hoạch định và xây dựng chương trình giáo dục phổ thông như: tác giả Đỗ Ngọc Thống với: Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011; Đổi mới mô hình giờ học văn ở trung học phổ thông theo quan điểm tích hợp; Đề xuất phương án thống nhất tích hợp và phân hóa trong trương trình giáo dục phổ thông Việt Nam; Từ Chương trình giáo dục phổ thông Hàn Quốc, đề xuất hướng tích hợp và phân hóa cho Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam; Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng phát triển sau 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2015, Bộ GD&ĐT, Tài liệu lưu hành nội bộ; tác giả Hoàng Hòa Bình với Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) [dẫn theo 20]. Về lí luận dạy học tích hợp và khả năng dạy học tích hợp ở nhà trường Việt Nam hiện nay có một số bài viết: Giảng dạy hợp nhất các khoa học ở trường trung học- tổng thuật, Thông tin khoa học giáo dục số 8 (1985) và Dạy học tích hợp, Nguồn www.vn của tác giả Trần Bá Hoành - Viện khoa học giáo dục Việt Nam; Dạy học tích hợp và khả năng áp dụng vào thực tiễn Việt Nam của tác giả Vũ Thị Sơn, Dạy và học ngày nay số 370, tr 21-25 (2009)… Các tác giả đã có những đánh giá khái quát rất xác đáng về ưu điểm và khả năng áp dụng của dạy học tích hợp trong các môn học ở nhà trường. Nhưng nhìn chung, sự vận dụng quan điểm tích hợp trong thực tiễn dạy học ở Việt Nam vẫn còn ở mức độ thấp và chỉ chú trọng đến tích hợp nội dung [dẫn theo 20].